Tue, 11/29/2011 - 10:57

Bình đẳng nam nữ là mục tiêu công bằng và đúng đắn và, theo Liên Hợp Quốc, đó còn là yếu tố căn bản để đảm bảo quản trị tốt, xoá đói giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế ở Việt Nam. Bình đẳng giới là một trong các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) đã được tất cả các quốc gia nhất trí. Nhân Ngày Quốc tế Phụ nữ - 8 tháng 3 năm 2003, LHQ xem xét bình đẳng giới có thể góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của Việt Nam như thế nào

Chị An, một cư dân ở Lào Cai, rất thất vọng khi ngân hàng địa phương không cho chị vay vốn để mở cửa hàng, mặc dù gia đình chị có đất để thế chấp. Người chồng quá cố của chị trước đây đã từng vay một số khoản tiền nhỏ. Chị An nói, giọng buồn rầu: "Vì giờ đây tôi đã goá chồng nên rất khó vay vốn ngân hàng". Thế là bà mẹ 52 tuổi này đành phải bán một phần đất của gia đình để có đủ số tiền cần thiết.

Tình trạng phụ nữ không được tiếp cận với các nguồn lực như tín dụng là vấn đề chính cản trở sự tham gia đóng góp của chị em trong nền kinh tế đất nước. Tuy vấn đề của chị An có thể giải quyết được vì Việt Nam đang tiến tới đảm bảo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên của mọi thành viên trong gia đình, song, theo một báo cáo mới đây của LHQ, phụ nữ vẫn có ít khả năng tiếp cận với dịch vụ tín dụng chính thức hơn nam giới. Hai phần ba số người vay vốn là nam giới vì phụ nữ phải trông cậy vào những cơ sở cho vay vốn tư nhân. Do khả năng tiếp cận với tín dụng hạn chế nên các gia đình do phụ nữ làm chủ hộ có ít cơ hội mở các hoạt động kinh doanh buôn bán nhỏ.

Bình đẳng giới góp phần tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

Kinh nghiệm thế giới cho thấy rõ tăng cường bình đẳng giới có nghĩa là nâng cao mức độ tăng trưởng kinh tế. Việc đầu tư cho bình đẳng giới tạo thuận lợi cho tăng trưởng ổn định. Phụ nữ chiếm 52% lực lượng lao động ở Việt Nam. Phụ nữ có thời gian làm việc nhiều hơn, ngủ ít hơn và được trả lương thấp hơn so với nam giới, không những thế họ còn tiếp tục phải đối mặt với những vấn đề gây cản trở khả năng tiếp cận bình đẳng với các cơ hội việc làm, các nhân tố sản xuất như đất đai, tín dụng cũng như lương và các điều kiện làm việc.

Một ví dụ điển hình là ở các vùng nông thôn phụ nữ chỉ chiếm 25% trong số những người tham gia các chương trình tập huấn về chăn nuôi. Trình độ công nghệ thấp, khả năng tiếp cận với tín dụng và đào tạo bị hạn chế cũng như trách nhiệm nội trợ và chăm nom gia đình ảnh hưởng nghiêm trọng tới khả năng thành đạt của phụ nữ.

Chế độ hưu trí đối với phụ nữ cũng là một vấn đề đáng quan tâm vì tuổi nghỉ hưu của phụ nữ ít hơn 5 năm so với nam giới, và điều đó hạn chế khả năng được hưởng đầy đủ các tiêu chuẩn trợ cấp hưu trí của chị em. Vì phụ nữ có tuổi thọ dài hơn nam giới nên mức sống của họ sẽ giảm đi khi tuổi càng cao nếu lương hưu của họ không được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát một cách thoả đáng.

LHQ đang phấn đấu giải quyết những thách thức này. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) góp phần tạo thêm nhiều việc làm và việc làm tốt hơn cho nữ thanh niên Việt Nam thông qua dự án nâng cao nhận thức và xây dựng tài liệu đào tạo chủ yếu về những nội dung như kiến thức cơ bản về luật pháp, kỹ năng sống, vấn đề giới và phát triển doanh nghiệp. Dự án đang xây dựng một chương trình đào tạo trọn gói để các giảng viên tiến hành tập huấn thí điểm cho 1200 nữ thanh niên.

Tổ chức Phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO) hiện đang hỗ trợ phát triển doanh nghiệp cho phụ nữ trong lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm. Dự án tổ chức đào tạo các giảng viên về bí quyết công nghệ, kỹ năng quản lý và tiếp thị để hướng dẫn cho các nhà doanh nghiệp nữ trong lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm ở miền Trung Việt Nam. Dự án giúp phụ nữ thiết lập các nhóm doanh nghiệp không chính thức và giải quyết các vấn đề về tiếp cận thị thị trường, tuyển dụng lao động, tiếp cận với thông tin và công nghệ cũng như vấn đề tài trợ.

Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực (FAO) hỗ trợ tăng số nữ nông dân được đào tạo trong chương trình quốc gia về phòng trừ dịch hại tổng hợp. Chương trình này giúp các tiểu nông tăng cường kỹ năng và đưa ra các quyết định trên cơ sở có đầy đủ thông tin.

Bình đẳng giới - cần phải thay đổi ý thức và hành vi của cả nam và nữ

Cứ vào 5 giờ chiều, chị Hiền lại gọi điện thoại cho chồng từ cơ quan để hỏi xem anh thích ăn món gì vào bữa tối trước khi chị ra chợ mua thức ăn. Chị Hiền nói: "Tôi rất mừng khi chồng tôi đỡ đần công việc nội trợ, song điều có ý nghĩa hơn sự chia sẻ công việc như vậy là anh ấy thể hiện sự quan tâm. Anh ấy còn chưa thạo việc mà". Làm việc ở một cơ quan Nhà nước tại Hà Nội, chị Hiền thấy rằng nam giới nắm giữ hầu hết các vị trí lãnh đạo trong cơ quan chị, mặc dù lao động nữ chiếm đa số.

Chị Hiền là một phụ nữ Việt Nam điển hình, vừa làm tròn bổn phận truyền thống của người mẹ và người vợ trong gia đình lại vừa lao động kiếm sống. Chị không hề thắc mắc gì về những trách nhiệm đó. Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ nữ nông thôn Việt Nam làm việc nhiều hơn nam giới từ 6 đến 8 tiếng mỗi ngày. Phụ nữ còn là người chăm sóc chính đối với hầu hết trẻ em và người già.

Ngày nay, nhiều phụ nữ Việt Nam dường như sống ở hai thế giới khác nhau. Trong công việc họ là những người phụ nữ hiện đại, song vẫn bị đối xử như những người ở vị trí thấp kém hơn. Những quan niệm truyền thống về vị trí, vai trò và trách nhiệm của người phụ nữ tiếp tục ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của phụ nữ và trẻ em gái cũng như cản trở nỗ lực tiến tới bình đẳng giới thực sự ở Việt Nam.

Bình đẳng giới không chỉ là vấn đề số lượng. Bình đẳng giới thực sự chỉ tồn tại khi nam giới và phụ nữ có vị trí, giá trị và được coi trọng như nhau trong xã hội. Điều đó có nghĩa là nam giới và phụ nữ có điều kiện như nhau để phát huy hết tiềm năng của mình và họ có thể tham gia cũng như được hưởng thụ lợi ích như nhau trong quá trình phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá.

Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) đưa ra phương thức tiếp cận mới trong việc thay đổi ý thức về bình đẳng giới thông qua sự tham gia của nam giới trong dự án về sức khoẻ sinh sản. Ông Omer Ertur, Đại diện của UNFPA tại Việt Nam, nói: "UNFPA còn hỗ trợ cải thiện bình đẳng giới trong gia đình, bao gồm các hoạt động tuyên truyền vận động ở cấp Trung ương và cấp tỉnh, các hoạt động truyền thông thay đổi hành vi hướng vào quảng đại quần chúng cũng như các hoạt động tập huấn cho nhân viên y tế về cách thức phát hiện hành vi bạo lực trong gia đình, cung cấp ý kiến tư vấn và thực hiện biện pháp chăm sóc phù hợp".

Theo Bà Pascale Brudon, Đại diện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam, "Việc tăng cường bình đẳng, công bằng giới và tạo điều kiện cho phụ nữ được tham gia quyết định các vấn đề sinh đẻ, tài chính và gia đình của mình sẽ cải thiện sức khoẻ và cuộc sống của phụ nữ và nam giới ở Việt Nam". WHO giúp nữ thanh niên tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ thanh niên, cho phép họ kiểm soát việc sinh đẻ của mình.

Định kiến đối với phụ nữ đặc biệt sâu sắc ở các vùng nông thôn. Một phụ nữ H" Mông nói: "Con trai vẫn ở với bố mẹ sau khi cưới và thế là mang thêm người về cho gia đình. Con gái giống như chim. Bố mẹ nuôi con gái lớn lên để rồi chúng bay đi mất". Tư tưởng này có thể lý giải tại sao số trẻ em gái học tiểu học lại thấp hơn nhiều so với trẻ em trai trong cộng đồng dân tộc H" Mông ở Baho.

Để làm rõ tầm quan trọng của quyền trẻ em gái, dinh dưỡng, nước sạch, vệ sinh môi trường và các vấn đề quan trọng khác đối với trẻ em, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) đã xây dựng một sáng kiến truyền thông (với tên gọi là Mai) để phục vụ các thôn bản của đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa. Trên cơ sở sử dụng hình ảnh động và lồng tiếng H‘Mông và các thứ tiếng dân tộc khác, UNICEF đã xây dựng một bộ phim hoạt hình trong đó nhân vật Mai dạy cho trẻ em biết cách khắc phục khó khăn và thực hiện các quyền của mình.

Bình đẳng giới đòi hỏi sự tham gia có ý nghĩa của phụ nữ về mặt chính trị

Mặc dù tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội Việt Nam là 27%, một trong những nước có tỷ lệ đại biểu quốc hội nữ cao nhất trên thế giới, song vẫn cần tăng thêm tỷ lệ nữ trong các cơ quan Nhà nước và chính quyền cấp tỉnh. Báo cáo mới đây của LHQ về tiến độ thực hiện các MDG cho thấy mức chênh lệch đáng kể về tỷ lệ đại biểu nữ trong Hội đồng Nhân dân (từ 7% đến 33%) giữa 61 tỉnh, thành phố của Việt Nam. Mức chênh lệch trong Uỷ ban Nhân dân còn lớn hơn (trung bình tỷ lệ nữ chỉ có 6,4% trong khi tỷ lệ nam là 93,6%).

Từ 1997 đến nay, Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã phối hợp với Uỷ ban Quốc gia vì sự Tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam (UBQGTBPN) hỗ trợ triển khai các hoạt động theo tinh thần của Hội nghị Bắc Kinh và phấn đấu nâng cao vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong công tác lãnh đạo và phát triển. UNDP cũng đã hỗ trợ việc bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo cho những phụ nữ lần đầu tiên tham gia ứng cử trong đợt bầu cử vào Quốc hội khoá 11, và kết quả là đã tăng tỷ lệ đại biểu nữ trong Quốc hội.

Bà Kanni Wignaraja, Phó Đại diện Thường trú UNDP, nói: "UNDP và Hà Lan cùng với UBQGTBPN hiện đang xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn đầu tiên của quốc gia về công tác lồng ghép giới và tài liệu tập huấn kèm theo. Sáng kiến mới này hỗ trợ quá trình chuyển đổi mang tính lịch sử từ phương thức tiếp cận theo phương châm "phụ nữ trong phát triển" sang phương thức tiếp cận theo phương châm giới và phát triển rộng hơn nhiều".

Mở rộng trách nhiệm về bình đẳng giới

Trong khuôn khổ các MDG, Liên Hợp Quốc sẽ hỗ trợ Việt Nam thúc đẩy bình đẳng giới cũng như nâng cao năng lực, vị thế của phụ nữ thông qua các sáng kiến và các hoạt động nghiên cứu, phân tích tiếp theo của mình.

Các tổ chức, cơ quan hay cá nhân tham gia công tác giới có vai trò quan trọng trong việc điều phối, hỗ trợ và theo dõi tiến độ, song nếu hoạt động một cách đơn độc thì họ không thể đạt được kết quả bình đẳng giới. Cần áp dụng một phương thức tiếp cận rộng hơn vì công tác lồng ghép giới phải làm thay đổi nếp suy nghĩ và hành động của người dân và các cơ quan/tổ chức. Cần phải xem xét và giải quyết toàn diện các nhu cầu và khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong việc ra các quyết sách, thực hiện chương trình và phân bổ nguồn lực. Điều hết sức quan trọng là có sự quan tâm chỉ đạo và cam kết mạnh mẽ của các nhà lãnh đạo quốc gia đối với mục tiêu bình đẳng giới.

Bài học thế giới cho thấy rõ rằng những quốc gia quan tâm thúc đẩy các quyền của phụ nữ và đảm bảo khả năng tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực, kể cả giáo dục, là những nước có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn cũng như có tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức độ phát triển con người cao hơn. Cần phải tiến hành các biện pháp nhằm thu hẹp khoảng cách hiện nay giữa phụ nữ và nam giới về giáo dục, cơ hội việc làm và quyền tiếp cận với đất đai, tín dụng. Quan niệm tích cực về giá trị và vị thế của phụ nữ phải là cơ sở cho mọi nỗ lực về bình đẳng giới. Ông Jordan Ryan, Điều phối viên Thường trú LHQ tại Việt Nam, kết luận: "Để đạt được các MDG nhằm mang lại lợi ích cho mọi người dân, Việt Nam cần nâng cao và đảm bảo tiếng nói và chất lượng cuộc sống của phụ nữ".

Việc thúc đẩy bình đẳng nam nữ vốn là một truyền thống mạnh mẽ và đáng tự hào của Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi bình đẳng giới là một trong mười nhiệm vụ chính của Cách mạng Việt Nam. Truyền thống này đã có từ khi Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 1946, trong đó quy định nam nữ bình quyền.

Việt Nam đã ký kết các hiệp định quốc tế nhằm thúc đẩy việc nâng cao vị thế của phụ nữ như Công ước LHQ về Xoá bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ và Cương lĩnh Bắc Kinh. Việt Nam đã có các văn bản chính sách cụ thể nhằm tăng cường thực hiện các mục tiêu này như Chiến lược 10 năm vì sự Tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam cho đến 2010, Kế hoạch Hành động 5 năm cho đến 2005 và Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói Giảm nghèo

Nếu xét các chỉ số phát triển con người như tuổi thọ trung bình, tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ nhập học dưới góc độ bình đẳng giới, Việt Nam có thể sánh vai, đôi khi vượt các nước khác trong khu vực.

Ông Jordan Ryan, Điều phối viên Thường trú LHQ tại Việt Nam, cho biết: "Hỗ trợ bình đẳng giới là mảng hoạt động rất triển vọng của LHQ vì Việt Nam cam kết thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới. Song Việt Nam không nên tự mãn cũng như không được để cho những chênh lệch về giới gia tăng. Chúng ta cần lắng nghe tiếng nói của phụ nữ, những người phải đối mặt với biết bao thách thức trong cuộc sống hàng ngày".

Mặc dù Việt Nam đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm đảm bảo bình đẳng nam nữ, song phụ nữ vẫn thường gặp khó khăn trong việc phát huy quyền bình đẳng của mình mà luật pháp đã quy định vì hiện vẫn còn tồn tại những quan niệm và tư tưởng cổ truyền về phụ nữ. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, việc đối xử không công bằng với phụ nữ sẽ dẫn đến chi phí cơ hội lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

(Nguồn: ỦY BAN QUỐC GIA VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM, 9/11/2009
(VPUBQG Sưu tầm)

Nghiên cứu GAS

Tư liệu tham khảo GAS

Bài mới cập nhật

Liên kết

Đối tác

Thống kê

Khách online: 0
Truy cập hôm nay: 1
Tổng số truy cập: 4
Tổng bài viết: 1145