Mon, 03/06/2017 - 08:35 - 106 Views

Nhân dịp ngày tưởng niệm Hai Bà Trưng 6 tháng 2 âm lịch, sáng thứ sáu ngày 03/03/2017, Trung tâm Nghiên cứu Giới và Xã hội – Trường Đại học Hoa Sen đã tổ chức buổi thuyết trình với chủ đề: “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng và nguồn cảm hứng cho hậu thế”. Nhà nghiên cứu sử học Trần Viết Ngạc là diễn giả của buổi thuyết trình này.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra vào mùa xuân năm 40 đã phá bỏ chính quyền phương Bắc đô hộ nước ta trong hơn 200 năm, giành lấy độc lập cho nước nhà. Sau đó bà Trưng Trắc được quân và dân suy tôn làm vua, lấy hiệu là Trưng Vương và đóng đô tại Mê Linh. Tuy cuộc khởi nghĩa chỉ giành lại được độc lập trong thời gian ngắn là 3 năm (40-43) nhưng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa đã gây được niềm tin và là nền tảng thúc đẩy tinh thần đấu tranh vì độc lập đất nước cho những thế hệ sau như: Lý Nam Đế, Ngô Quyền. Cuộc khởi nghĩa còn là minh chứng hùng hồn cho bản lĩnh của phụ nữ Việt Nam trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Phải chăng ta nên lấy ngày 6 tháng 2 âm lịch làm ngày quốc khánh của nước ta như ý kiến của Phan Bội Châu và coi Hai Bà Trưng như quốc tổ?

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng còn tạo được nguồn cảm hứng cho hậu thế, chẳng hạn như Huỳnh Thúc Kháng viết tuồng “Trưng Nữ Vương bình ngũ lãnh” ở Côn Đảo cho các bạn tù diễn trong sân nhà tù ngày Tết (1910), trong đó Phan Châu Trinh đóng vai Thi Sách (thật ra Thi Sách tên “Thi” chứ không phải “Thi Sách”); Phan Bội Châu sáng tác tuồng “Trưng Nữ Vương” ở Bản Thầm, Xiêm (1911) nhằm nuôi dưỡng tinh thần yêu nước của thanh niên; và Nguyễn An Ninh viết tuồng “Hai Bà Trưng” (1928).

Khác với hai tuồng “Trưng Nữ Vương bình ngũ lãnh” và “Trưng Nữ Vương” đã nêu trên, tuồng hát “Hai Bà Trưng” của Nguyễn An Ninh dù được ghi ở bìa sách là “tuồng hát” nhưng thật ra đó là tài liệu học tập phân phát cho nhóm “Thanh niên Cao vọng” được Nguyễn An Ninh viết ngụy trang dưới dạng tuồng hát, chỉ lưu hành nội bộ, phòng khi bị bắt thì họ sẽ nói là đang tập tuồng hát chứ không phải là đang học tập. Ta thấy tuồng hát này không thể dùng để diễn được vì có những phần độc thoại rất dài. Ở mặt trong của trang bìa sách có ghi: “In lần đầu 4.000 cuốn, có đóng số từ 1 đến 4.000, và có người làm sách ký tên mỗi cuốn”. Tuy nhiên, hiện nay chúng ta chỉ có bản in sao chép từ viện bảo tàng ở Pháp, không có chữ ký của Nguyễn An Ninh, điều này chứng tỏ là thực dân Pháp có thể chưa tịch thu được quyển sách nào của các thành viên nhóm “Thanh niên Cao vọng”, mà chỉ lấy sách trực tiếp từ nhà in và đưa về lưu hồ sơ mật thám của Pháp. Đoàn thể Thanh niên Cao vọng không phải là một đảng vì không có cương lĩnh và tổ chức trung ương, được thành lập từ buổi nói chuyện về lý tưởng của thanh niên an nam và xây dựng đất nước, theo gương giống cách mạng Pháp: “Liberté, égalité, fraternité”. Nhưng Nguyễn An Ninh chủ trương “công bình” thay vì bình đẳng/ égalité và “tương ái” thay vì bác ái/fraternité. Đoàn thể Thanh niên Cao vọng hoạt động trong khoảng thời gian 1923-1929 ở Nam kỳ.

Trong tuồng hát này, Nguyễn An Ninh đã hư cấu nên nhân vật Nguyên soái Lý Định, một quan võ, là người yêu của Trưng Nhị, sau này do cả hai hy sinh trong chiến trận với Mã Viện nên chưa đi đến hôn nhân. Cũng theo tuồng này, nhân vật Trưng Trắc mờ nhạt, vì đau khổ cá nhân do chồng mất nên bà đã quên mất đau khổ của dân tộc, trong khi đó Trưng Nhị lại là người luôn đưa ra các kế hoạch đấu tranh và xây dựng đất nước. Ta thấy Nguyễn An Ninh đã gửi gắm tinh thần bất khuất của dân tộc ta trong vai trò một người nữ.

Khi khởi sự viết tác phẩm hư cấu này, Nguyễn An Ninh có đắn đo, do dự vì không biết phải viết sao về người xưa và ông đã đi hỏi một thằng bé chăn trâu xem nó có biết ông cố nội của nó không, nó trả lời là nó còn không biết ông nội nữa chứ nói gì tới ông cố nội. Thế là Nguyễn An Ninh bèn “làm liều” mà “viết liều”[1]. Ông cho Trưng Nhị nói những lời tỉnh táo để an ủi chị đang thương tiếc chồng: “Bọn quan lại Tàu nó giết anh Thi Sách mà không động lòng dân, thì nghĩa là chúng nó đã giết được cái tinh thần của dân Việt Nam rồi. Điều ấy mới là đáng lo, đáng tiếc.”[2]  Khi bàn bạc với người yêu là Lý Định, Trưng Nhị cũng rất sáng suốt: “Dân Việt Nam không phải vì quý trọng cái quyền tự do của mình mà đánh đuổi thằng Tàu. Đánh đuổi thằng Tàu là vì bị nó hà hiếp thái quá. Nếu còn có thể thở được, thì chắc là dân Việt Nam không có vùng vẫy  làm gì.”[3] Rồi Trưng Nhị lo lắng sau khi giành được độc lập, nếu không biết lo cho dân no đủ thì “Cái cảnh may khi trước lại trở thành một cái cảnh rất khổ cho mình”[4].

Nhìn chung, tuồng hát Hai Bà Trưng của Nguyễn An Ninh cho ta thấy tầm nhìn xa và rộng của ông đến vận nước khi là một người thanh niên mới 28 tuổi và đã viết ra những dòng tư tưởng thời sự tiến bộ như thế từ năm 1928, cách thời đại chúng ta ngày nay gần 100 năm.

Bên cạnh việc trình bày về cuộc đời và sự nghiệp đấu tranh của Hai Bà Trưng, hai người Việt đầu tiên đứng lên chống ngoại xâm vào thế kỉ thứ I, buổi thuyết trình còn là dịp để chúng ta được hiểu sâu sắc hơn về cuộc khởi nghĩa của hai bà đã nuôi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Pháp sau này thông qua các tác phẩm của Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu và đặc biệt của Nguyễn An Ninh.

Đôi dòng về diễn giả

Nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc hiện đang làm việc tại Phòng Nghiên cứu Khoa học, trường Đại học Hoa Sen. Ông đã giảng dạy và nghiên cứu Lịch sử Việt Nam cận đại tại Đại học Sư phạm Huế (1967-1982), Đại học Sư phạm Tp.HCM (1982 -2008) và thỉnh giảng ở các Đại học Hùng Vương, Lạc Hồng về Văn hóa Việt Nam... Ông nghiên cứu chuyên sâu về Phong trào Cần Vương, về Duy Tân hội, Phong trào Duy Tân… và các nhà cách mạng đầu thế kỷ: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp...

 

 


Những trích dẫn trong bài này được ghi số trang theo sách của Trung tâm nghiên cứu Quốc học. 2009. Nguyễn An Ninh tác phẩm. Nxb Văn học.

[1] Trang 826

[2] Trang 836

[3] Trang 864

[4] Trang 864

GAS tường thuật