Tue, 03/21/2017 - 09:47 - 81 Views

Trung tâm Nghiên cứu Giới và Xã hội – Trường Đại học Hoa Sen vừa tổ chức buổi thuyết trình “Giới và Lịch sử Môi trường” do Giáo sư Mart Stewart và nhà văn Lý Lan trình bày vào ngày 10/03/2017 tại trường Đại học Hoa Sen.

Đọc sách và môi trường

Trước hết là đọc sách về môi trường và đọc phong cảnh xung quanh ta. Ta đọc sách cùng với đối thoại và đi bộ.

Theo “Đi bộ”, một tác phẩm cổ điển của Henry David Thoreau, 1851: Một người dễ thích nghi thì bất cứ ở nơi đâu cũng có thể cảm thấy thoải mái như đang ở nhà mình. Đi bộ, đọc sách và dễ thích nghi có nghĩa là ta không chỉ sống trên bề mặt thế giới mà còn tìm thấy có sự kết nối gắn bó gốc rễ của mình ở mọi nơi.

GS. Mart Stewart và nhà văn Lý Lan

Tại sao ta cần có ngành nhân văn về môi trường?

Theo Thomas K. Dean, ngành nhân văn về môi trường là “việc nghiên cứu hoặc sử dụng văn hóa, các sản phẩm văn hóa (tác phẩm nghệ thuật, bài viết, tiểu thuyết, tiểu luận, tài liệu lịch sử, lý thuyết khoa học) để kết nối và tạo mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên”[1]

Các nhà khoa học sáng tạo ra nhiều câu chuyện về thiên nhiên, nhưng họ không biết cách kể lại chuyện ấy cho người khác như thế nào. Trong khi đó, sinh viên theo học các ngành lịch sử và văn hóa có thể học cách thức kể lại các câu chuyện đó một cách hấp dẫn cho người khác nghe. Những vấn đề đặt ra ở đây là về quan điểm, sự công bằng và “ai sẽ lên tiếng”.

Giới và môi trường: nhiều quan điểm phản biện

Theo các nhà nữ quyền sinh thái thời kỳ thập niên 1990 thì bản thân trái đất là “nữ tính”.

Một số quan điểm bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ giới và quyền lực được thể hiện qua các minh họa khoa học hoặc qua cách tạo cảnh quan các vườn hoa. Giới được coi như là một sự kiện lịch sử, qua đó nữ giới là những thủ lĩnh về môi trường.

Theo lý thuyết nữ quyền sớm, thiên nhiên mang tính nữ và chế độ phụ quyền/ gia trưởng cùng với cuộc cách mạng khoa học của chủ nghĩa tư bản đã góp phần vào việc chia tách nữ tính ra khỏi thiên nhiên một cách đầy đau đớn, thể hiện qua tác phẩm “The Death of Nature- Women, Ecology and the Scientific Revolution”, tạm dịch là: “Cái chết của Thiên nhiên- Nữ giới, sinh thái và cuộc cách mạng khoa học” của Carolyn Merchant (1980). Tuy nhiên, điều này đã bị bác bỏ vì đó là theo bản chất luận, đặc biệt khi chúng ta bắt đầu hiểu "giới" phức tạp hơn nhiều so với các phạm trù đơn thuần và mang tính bản chất luận, chẳng hạn như: "nữ tính", "nam tính", “đàn bà” và "đàn ông".

Một số người đôi khi không phải là nhà khoa học, nhưng họ đã giúp ích rất nhiều cho việc thực hành khoa học. Chẳng hạn như Marianne North (1830-1890), người Anh, đã làm việc với những nhà sinh vật học chuyên nghiệp ở các công viên Kew Royal Gardens và những nơi khác, bà vừa là nhà khoa học vừa là họa sĩ chuyên vẽ tranh minh họa cho khoa học. Loài hoa Nepenthes northiana đã được đặt tên theo tên của Marianne North. Bà Margaret Mee (1909-1988), người Anh, là họa sĩ chuyên vẽ các loại thảo mộc, bà đã đi du lịch nhiều nơi. Còn bà Elizabeth Blackwell (1707-1758), người Anh, là nhà thực vật học và chuyên viên về các loại dược thảo. Vào năm 1737, bà đã xuất bản tác phẩm “A Curious Herbal” vẽ 500 loài cây cỏ kèm theo mô tả loài cây đó và cách sử dụng trong y học. Gertrude Jekyll (1843-1932) là nhà thiết kế cảnh quan vườn hoa. Bà đã thiết kế trên 400 vườn hoa tại nước Anh, Mỹ và châu Âu.

Vườn hoa Hestercombe ở Somerset (nước Anh) do Gertrude Jekyll thiết kế

Giới và phong trào bảo vệ môi trường tại Hoa Kỳ

John Muir (1838-1914) là một nhà nghiên cứu về thiên nhiên và triết gia về môi trường, ông là người Anh và sau này ông sống tại Hoa Kỳ. John Muir là một trong những nhà sáng lập của Câu lạc bộ Sierra Club (1890), phong trào bảo tồn sự hoang dã. Tác phẩm “The Mountains of California”, tạm dịch: Các rặng núi ở California, của John Muir (1894) ca ngợi tính chất hoang dã của thiên nhiên, ông tập trung quan tâm đến khía cạnh sinh học tự nhiên hơn là mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người. Ông đã kiến nghị với Tổng thống Hoa Kỳ là Theodore Roosevelt về việc bảo vệ sự hoang dã của rừng núi. Trong suốt tám năm làm tổng thống, 1900-1908, Tổng thống Roosevelt đã ký văn bản để bảo vệ năm vườn quốc gia, 150 khu rừng quốc gia cùng nhiều công trình khác.

Thomas Moran (1837-1926), người Anh và sau này ông sống tại Hoa Kỳ, ông là họa sĩ chuyên vẽ phong cảnh rừng núi. Ông đã đi thực địa và vẽ bức tranh “The Grand Canyon of the Yellowstone” (Đại Vực ở Yellowstone). Những bức họa của ông đã thuyết phục được Tổng thống Ulysses S. Grant và Quốc hội đồng ý đưa Yellowstone thành vườn quốc gia cần phải bảo tồn (năm 1872).

Gifford Pinchot (1865-1946) là nhà nghiên cứu về rừng, sau này ông làm thống đốc bang Pennsylvania. Khác với John Muir và Thomas Moran chỉ bảo tồn sự hoang dã của thiên nhiên, Gifford Pinchot cho rằng bảo tồn thiên nhiên phải đi đôi với việc sử dụng, mang lại lợi ích kinh tế. Tổng thống Roosevelt đặc biệt quan tâm đến cách tiếp cận của Gifford Pinchot vừa bảo tồn vừa sử dụng hợp lý và đồng thời cũng đảm bảo "vệ sinh rừng", giảm thiểu rác, chất thải. Từ đó, Quốc hội Hoa Kỳ đã ra một đạo luật vào năm 1908 đưa 156 khu rừng, chiếm ¼ tổng quỹ đất rừng vào hệ thống rừng quốc gia (liên bang). Trong tác phẩm “The Fight for Conservation”/ tạm dịch: Đấu tranh để bảo tồn, 1910, Gifford Pinchot đã đưa ra khái niệm về đạo đức trong việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Tóm lại, ở vùng rừng núi đã có các chính sách bảo tồn, nhưng ở môi trường đô thị- nơi mà hầu hết mọi người sống- thì sao? Lúc ấy, Hoa Kỳ đang ở thời kỳ hiện đại hóa và có các vấn đề về môi trường đô thị như ô nhiễm không khí, chất độc công nghiệp đang gia tăng.

Nữ giới - những người đầu tiên hoạt động vì môi trường

Jane Addams (1860-1935) đã thành lập nhà định cư cho công nhân- Hull House (gọi theo tên người chủ cũ là Charles Hull) ở Chicago vào năm 1889. Công nhân sống chung, chứ không bị tách biệt với dân cư khu phố. Jane Addams còn tổ chức hoạt động “vệ sinh đô thị”, thu gom và tái chế rác thải ở các khu ổ chuột, quan tâm đến những công nhân bị nhiễm các hóa chất độc hại khi làm việc trong nhà máy.

Alice Hamilton (1869-1970) là bác sĩ, bà đến thăm công nhân tại khu nhà Hull House vào năm 1897, và phát hiện ra các bệnh nghề nghiệp. Bà đưa ra khái niệm “ô nhiễm”, bà dò theo dấu vết và đánh dấu trên bản đồ những nơi có nhiễm chì, phốt-pho, và các chất gây ô nhiễm khác. Sau đó bà phát động phong trào trồng cây xanh và chống xả khói nhà máy. Alice Hamilton là một trong những người sáng lập ra môn nghiên cứu độc tố môi trường. Bà được cho là một trong ba người tiên phong cho phong trào môi trường của Hoa Kỳ, hai người kia là John Muir, Gifford Pinchot đã nêu ở trên.

Thêm vào đó, phong trào bảo vệ môi trường của Hoa Kỳ cũng có Rachel Carson (1907-1964). Bà là nhà sinh vật học về đại dương và có khả năng viết các vấn đề khoa học thành những câu chuyện thu hút nhiều người đọc, nhất là những chuyện về đời sống ở biển và dọc bờ biển. Một số tác phẩm của bà thuộc loại sách bán chạy nhất tại Hoa Kỳ: “The Sea Around Us”/ tạm dịch: Biển quanh ta, 1951; “The Edge of the Sea”/ tạm dịch: Bờ mép của biển, 1955. Đặc biệt trong tác phẩm “Silent spring”/ tạm dịch: Mùa xuân câm lặng, 1963, đã giúp ngăn chặn một dự án công nghiệp thuốc trừ sâu, nhất là chất DDT, của Mỹ. Carson lập luận rằng thuốc trừ sâu này không chỉ giết sâu bọ mà còn xâm nhập vào dây chuyền thực phẩm, khiến cho chim, cá và con người bị nhiễm độc. Phần lớn những dữ kiện mà Carson nêu ra không phải là mới; giới khoa học đều đã biết rồi nhưng bà là người đầu tiên kết hợp các dữ liệu lại và trình ra cho công chúng biết các tác hại của hóa chất độc hại trong nông nghiệp.

Nhìn ra nước khác, ta thấy tại Ấn Độ, có phong trào Chipko vào năm 1973. Tại bang Uttar Pradesh, dưới chân núi Hymalaya có khu rừng, đó là nguồn sinh kế quan trọng cho người dân trong vùng. Tuy nhiên, rừng ngày càng bị thu hẹp do nạn phá rừng từ các doanh nghiệp khai thác gỗ. Người dân địa phương lo ngại tình trạng phá rừng sẽ gây xói mòn đất và chẳng bao lâu khu vực này sẽ biến thành sa mạc do không còn cây cối để giữ lại nguồn nước ngầm trong đất. Thế là nổ ra phong trào Chipko, (chipko có nghĩa là “ôm”) mỗi cây trong rừng đều có nhiều người dân đứng ôm xung quanh để ngăn không cho doanh nghiệp khai thác gỗ bừa bãi. Trong thập niên 1980, phong trào này đã tạo nguồn cảm hứng cho nhiều nơi trong nước và quốc tế, khởi đầu cho các phong trào nữ quyền sinh thái và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng sau này.  

Cũng tại Ấn Độ, Tiến sĩ Vandana Shiva (1952-  ) là một nhà vật lý học và nhà hoạt động môi trường sinh thái. Bà hoạt động để bảo tồn sự đa dạng sinh học của cây trồng. Hạt giống là nền tảng của nông nghiệp, là phương tiện sản xuất và sinh kế của nông dân. Tuy nhiên, vào thập niên 1990, Mosanto, một tập đoàn công nghệ sinh học nông nghiệp đa quốc gia đã đến Ấn Độ và thu gom hạt giống từ nông dân, họ dùng kỹ thuật để biến đổi gen của hạt giống và sau đó nông dân phải vay mượn tiền để mua lại hạt giống của Mosanto với giá cao. Khi bị mất mùa, nợ nần chồng chất, rất nhiều nông dân đã tự tử. Chính vì vậy, Vandana Shiva đã chống lại tập đoàn đa quốc gia Mosanto.

Hiện nay chủ nghĩa nữ quyền sinh thái là một cách tiếp cận phức tạp khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa và thiên nhiên, nhưng nhìn chung cách tiếp cận nữ quyền sinh thái phân tích cách thức người ta miêu tả và sử dụng thiên nhiên có góp phần vào sự đàn áp phụ nữ hay không và đang đặt ra những câu hỏi về môi trường và công lý.

Nhìn chung – ta không cần bàn đến việc thiên nhiên có hay không thể có giới tính, nhưng ta cần biết ta đã gán giới tính cho thiên nhiên như thế nào và việc gán ấy có khác biệt gì.

Đôi dòng về diễn giả

Giáo sư Mart Stewart hiện đang giảng dạy trong lĩnh vực Lịch sử khoa học và Lịch sử môi trường tại Trường Đại học Western Washington University, Bellingham, Washington, Hoa Kỳ.

Nhà văn Lý Lan tốt nghiệp Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, và cao học Anh văn ở Đại học Wake Forest (Mỹ). Trước đây bà đã dạy học tại một số trường Trung học ở Long An và TP. HCM. Bà cũng dạy ở Đại học Văn Lang (1995-1997).  Lý Lan là người đã được nhà xuất bản Trẻ giao công việc dịch truyện Harry Potter sang tiếng Việt.

Nhà văn Lý Lan lập gia đình với Giáo sư Mart Stewart. Hiện nay hai ông bà định cư ở cả hai nơi, Hoa Kỳ và Việt Nam.  

 


[1] Thomas K. Dean, www.asle.umn.edu/conf/other_conf/wla/1994/dean.html, accessed 10.6.08

 

Lê Thị Hạnh tường thuật