Thu, 09/20/2012 - 17:41 - 4694 Views

PGS.TS. Trần Thị Minh Đức

Đại học quốc gia Hà Nội

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Khi một cách nhìn, một thái độ hay hành vi của cá nhân, nhóm xã hội được định hình từ trước và phản ánh không đúng sự thật về đối tượng thì đều là những biểu hiện khác nhau của định kiến. Có thể hiểu, định kiến xã hội là những thái độ tiêu cực không có cơ sở chắc chắn; một tập hợp các quan niệm, ý kiến, niềm tin hoặc biểu tượng có tính chất rập khuôn và đơn giản hoá những đặc điểm bề ngoài về một nhóm người nào đó khiến cho các đặc điểm của nhóm này bị mô tả một cách cứng nhắc, không chính xác.

Định kiến của xã hội về nhóm nam giới hay nhóm nữ giới thường được gọi là định kiến giới. Định kiến giới được hiểu là thái độ có sẵn của xã hội nhìn nhận không đúng về khả năng, về tính cách mà nam giới hoặc nữ giới nên có, hoặc không nên có; về loại hình hoạt động và nghề nghiệp mà nam hay nữ giới có thể, hoặc không thể làm. Thậm chí sự ấn định này có trước cả khi họ được sinh ra. Do xã hội hiện nay vẫn còn những bất bình đẳng đối với phụ nữ nên khái niệm định kiến giới được ngầm hiểu là định kiến đối với nữ giới. Định kiến giới hiện nay phản ánh chưa đúng với khả năng thực tế của nữ giới, đặc biệt là nữ trí thức, do cách nhìn nhận về nữ trí thức bị phiến diện vào những khuôn mẫu giới truyền thống mà xã hội đã ấn định từ trước cho phụ nữ. Vì thế định kiến giới tạo nên một sự phân biệt đối xử tiêu cực với nữ trí thức, trong so sánh với nam trí thức.

Trong khi đó, áp lực xã hội được hiểu là những sức ép tâm lý của số đông người buộc một cá nhân, hay nhóm người phải thay đổi suy nghĩ, thái độ hoặc hành vi của mình sao cho phù hợp với các quy tắc, khuôn mẫu của xã hội. Xét từ góc độ giới, sức ép này thường là các quy tắc công khai hay ngầm định của nam giới đối với nữ giới. Tuy nhiên, sự thay đổi nhận thức hay hành vi của nữ trí thức trước những áp lực của định kiến giới phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu và sự lựa chọn các giá trị mà nữ trí thức cho là quan trọng trong cuộc đời họ.

Nữ trí thức Việt Nam là những người làm việc trí óc, họ có năng lực sáng tạo, luôn nhạy cảm với sự công bằng. Vì vậy, những định kiến và áp lực xã hội đối với nữ trí thức đã thật sự ảnh hưởng tới sự duy trì hạnh phúc gia đình và phát triển nghề nghiệp của họ. Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích những biểu hiện cụ thể của định kiến xã hội đối với nữ trí thức và những áp lực xã hội mà nữ trí thức đang phải “gồng mình” để vượt qua. Bài viết này được phân tích dựa trên những hồ sơ của các nữ tiến sỹ Đại học quốc gia Hà Nội; những nghiên cứu của chúng tôi về “Định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới” và phân tích từ các cuộc phỏng vấn nhanh về nữ trí thức của chúng tôi. Ngoài ra, bài viết cũng tham khảo một số công trình, hay số liệu đã được công bố.   

 2. ĐỊNH KIẾN XÃ HỘI ĐỐI VỚI NỮ TRÍ THỨC

Tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay đang khẳng định vai trò ngày càng lớn của nữ trí thức trong tất cả các lĩnh vực hoạt động trí óc. Tuy nhiên trong nhận thức của không ít người hiện nay (cả những người có chức vụ, học hàm, học vị chuyên môn cao) họ vẫn còn có xu hướng đồng nhất các phẩm chất, năng lực của nữ trí thức với các khuôn mẫu của một người phụ nữ truyền thống, như tính nhẹ nhàng, cả tin, lệ thuộc... Cơ sở hình thành định kiến đối với các nữ trí thức đó chính là các khuôn mẫu giới - một biểu hiện của phương thức tư duy cứng nhắc và quá đơn giản khi đánh giá nhóm trí thức nữ mà không hoàn toàn dựa trên những phẩm chất cụ thể của họ, khi trong thực tế, tính chất hoạt động của nữ trí thức đã giúp họ tự chủ, phát triển năng lực trí tuệ; mở rộng nhãn quan dân chủ và khẳng định tiếng nói, vị trí của mình trong nghề nghiệp và xã hội. Có thể nói, so với các nhóm xã hội khác, nữ trí thức có nhu cầu bình đẳng và sự tự nhận thức khá cao. Những phân tích dưới đây sẽ làm sáng tỏ sự định kiến đối với nữ trí thức từ hai yếu tố là nhận thức và hành vi phân biệt đối xử.

  • Định kiến thể hiện qua nhận thức

Định kiến giới đối với phụ nữ thường thể hiện qua ngôn từ, và thể hiện ở niềm tin về những khuôn mẫu giới truyền thống ít nhiều không còn phù hợp, đặc biệt đối với nữ trí thức. Với tư cách là đồng nghiệp ở công sở, trường học, người ta ít nghe thấy những cụm từ công khai mà trong dân gian thường dành cho chị em, như: “Đồ đàn bà”, “Biết gì mà nói”, “Đồ ngu”, “Ngu như bò”. Trong khi những câu nói này vẫn được “tung ra” một cách tự nhiên trong một số gia đình. Và, dù … ai là ai thì… ai cũng “thông cảm” được!

Ở công sở, đôi khi bạn trò chuyện một cách thân tình với một số đồng nghiệp nam giới có học thức cao hay chức quyền, thậm chí cả với những trí thức trẻ tuổi – những người tự cho mình thuộc “nhóm tiến thủ”, bạn sẽ “giật mình” và nhận ra rằng bình đẳng giới là một cuộc chiến cam go về khía cạnh tư tưởng, niềm tin hơn là khía cạnh lợi ích của nữ trí thức hay vì sự phát triển bền vững của xã hội mà họ đã và sẽ đem lại. Với một số nhỏ những người này cũng đủ góp phần làm cho cuộc sống của nữ trí thức thêm phần năng nề, căng thẳng. Chia sẻ với một nghiên cứu sinh nữ trẻ về vấn đề nghiên cứu khoa học của nữ trí thức, một giáo sư nam thế hệ “cây đa cây đề” nói: ”Để có một gia đình hạnh phúc thì người phụ nữ nên lui sau chồng một bước, theo thông lệ chỉ có gà trống mới gáy, còn nếu gà mái gáy thì đó là báo hiệu điều gở sẽ đến và hơn nữa nếu cả hai cùng gáy thì bao giờ cũng có sự ganh đua và đã là ganh dua thì sẽ có sự phân chia thắng bại, mà thực tế đã chứng minh rằng khi đó phụ nữ bao giờ cũng là người bị chịu phần thiệt thòi hơn. Đã là phụ nữ thì đừng nên học quá cao và cũng đừng nên quá ham trên con đường công danh và sự nghiệp, bởi vì thượng đế đã tạo nên thiên chức của họ đó là làm mẹ và làm vợ” [Dẫn theo 3].

Xét từ góc độ quản lý, quan sát biểu hiện của định kiến giới qua lời nói hàng ngày, chúng ta dễ nhận thấy tính chất hai mặt trong đánh giá của xã hội về hành vi lãnh đạo của nữ và nam trên cùng một vấn đề. Những ngôn từ như: anh ấy xông xáo - chị ấy liều lĩnh; anh ấy sâu sát - chị ấy cầu kỳ; anh ấy ít nói - chị ấy giữ kẽ; ông ấy  tự tin - bà ấy tự phụ; ông ấy vững vàng - bà ấy cứng rắn; ông ấy nghiêm nghị - bà ấy khó khăn v.v… Những ngôn từ này được các nhà nghiên cứu về giới trên thế giới (ví dụ, From Doyle, 1983) nói đến nhiều và chúng cũng rất phổ biến ở xã hội Việt Nam.

Chúng ta cũng có thể cảm thấy sự chấp nhận vai trò lãnh đạo của nữ giới một cách rất… định kiến. Trò chuyện về sự lãnh đạo của nữ giới, một giảng viên đại học nhận xét:” Ngày nay nam hay nữ lãnh đạo đều được cả. Nếu một người lãnh đạo là nam giới nhưng thô thiển và thiếu công bằng thi thà có một lãnh đạo nữ quan tâm và có trách nhiệm với mọi người vẫn hơn”. Có thể nói: Những ngôn từ hàng ngày nhận định về nhóm nam hay nhóm nữ gần như được định khuôn trong lời nói, nhận thức của chúng ta và khi chúng được hoạt hóa, người ta không ý thức hết thái độ định kiến của mình, đặc biết là đối với nữ trí thức.

Quan sát ở nơi làm việc chúng ta cũng dễ nhận thấy hiện tượng, nếu một thủ trưởng nam nổi giận, điều này làm cho nhiều người sợ và không ít người khác lại nể. Dù là gì thì người ta cũng chấp nhận, vì “Anh ta cần thực thi quyền lực”. Tuy nhiên, nếu một nữ quản lý thể hiện sự giận dữ như thế, chắc chắn chị ta sẽ bị coi là “Mất kiểm soát”, “Kém năng lực lãnh đạo”. Và dù bất kể lý do gì chị ta cũng bị “điểm xấu”! Là phụ nữ, chị ta phải cư xử “nhẹ nhàng” và là trí thức, chị ta phải xử sự cho … “có học”!

Để làm rõ sự nhận thức mang tính định kiến về vai trò lãnh đạo đối với nữ giới, chúng tôi làm một khảo sát nhanh trên 150 sinh viên trường ĐHKHXH&NV HN về hiện tượng “Nam trưởng, nữ phó ”. Câu hỏi chúng tôi đưa ra: “Trong các chức vụ dưới đây (Hiệu trưởng/phó hiệu trưởng; chủ nhiệm khoa/phó chủ nhiệm khoa; trưởng phòng, ban/phó trưởng phòng, ban…) ai có thể đảm nhận ( nam hay nữ)? Xin giải  thích lý do? Thật bất ngờ là hầu hết các chức vụ trong trường đều được tối thiểu 2/3 số sinh viên trả lời dập khuôn theo một mẫu truyền thống là “nam trưởng, nữ phó”, hoặc thậm chí chỉ có nam lãnh đạo - trừ duy nhất chức vụ kế toán trưởng là nữ. Một sự giải thích chung chung mà các em thường đưa ra là: làm lãnh đạo phải quyết đoán, mạnh mẽ; rằng những phẩm chất thuộc về lãnh đạo không hợp với nữ giới; hay, nữ giới vốn tình cảm, nhu mì, không quyết đoán...

Có sự nhận thức khác biệt về khuôn mẫu giới trong niềm tin và khuôn mẫu giới trong thực tế. Điều này được chúng tôi kiểm định trên sinh viên ngành Tâm lý học, khi các em học môn Tâm lý học Giới. Kết quả cho thấy: Khi yêu cầu sinh viên mô tả những nét tính cách, những đặc điểm của nam giới và của nữ giới (nói chung) thì tư duy của sinh viên thường dập theo khuôn mẫu giới đang có về nam hay nữ. Sinh viên cho rằng: Nam giới có đặc trưng là mạnh mẽ, quyết đoán, lãnh đạo, tự chủ, ít nói, tháo vát, linh hoạt v.v... Còn nữ giới có tính nhẹ nhàng, chung thủy, lắng nghe, nhường nhịn, chịu khó, tôn trọng người khác v.v... Tuy nhiên, khi yêu cầu các sinh viên mô tả những nét tính cách, những đặc điểm đặc trưng của mình, thì kết quả lại cho thấy không hề tồn tại sự khác biệt trong tính cách, đặc điểm của sinh viên nữ hay nam. Có nghĩa là cả sinh viên nam và nữ đều có gần hết các đặc điểm mà họ cứ nghĩ đó là của đàn ông hoặc của đàn bà. Nhiều nữ sinh viên nữ nói rằng họ có các đặc điểm như mạnh mẽ, tự chủ, ít nói, kiên định v.v…, và nhiều nam sinh viên cho rằng những đặc điểm như nhường nhịn, tôn trọng, tế nhị, biết lắng nghe v.v… là những phẩm chất có trong con người họ. [2]

Trong cuộc sống, hành vi của nữ giới và nam giới đều không quá khác biệt. Nữ giới có thể làm những công việc vốn thuộc về nam giới và ngược lại. Tuy nhiên trong nhận thức, chúng ta thường tư duy theo khuôn mẫu - cái này thuộc về đàn ông, cái kia của phụ nữ. Các khuôn mẫu xã hội luôn ủng hộ nam giới trong lĩnh vực nghề nghiệp và hướng đến làm lãnh đạo, còn đối với nữ giới các khuôn mẫu lại gắn họ với những phẩm chất của người nội trợ, chăm sóc người ốm, mẫn cảm. Cách xem xét vấn đề của nam giới và nữ giới theo khuôn mẫu trên là một sự duy trì bất bình đẳng trong nhận thức đối với nữ trí thức.

  • Định kiến thể hiện qua hành vi

Sự nhìn nhận không công bằng giữa nam và nữ trong công việc không chỉ đơn giản thể hiện ở lời nói rập khuôn, mà cả trong hành vi ứng xử. Câu hỏi đặt ra là: Xã hội đánh giá phẩm chất, năng lực của nữ trí thức từ thực tế khả năng của họ, hay chúng xuất phát từ khuôn mẫu giới truyền thống?

Bảng số liệu dưới đây sẽ một phần cho phép làm sáng tỏ điều này.

Bảng 1: Cán bộ quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

phân theo giới tính

Các trường

Chức trưởng

Chức phó

Nam

Nữ

Nam

Nữ

ĐHQG và 5 ĐH vùng

83

17

67

23

Các đơn vị thành viên của ĐHQG và 29 ĐH vùng

90

10

74

26

5 trường thuộc khối kỹ thuật -Công nghệ

100

0

100

0

5 trường thuộc khối Luật - Kinh tế

100

0

83

17

6 trường khối Nông-Lâm- Ngư

100

0

80

20

8 trường khối sư phạm

88

12

50

50

Nguồn: số liệu thống kê của vụ khoa học công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, tháng 5/2006 (dẫn theo 3)

Bảng số liệu 1 cho một vài nhận xét sau:

- Có vẻ như quan niệm “làm khoa học”, “làm nghiên cứu” thường gắn với nam giới. Vì vậy, việc quản lý hoạt động khoa học được nhìn nhận là trách nhiệm của nam giới.

- Những trường đại học có ngành, nghề nghe có vẻ “đàn ông” như khối trường liên quan đến lĩnh vực Kỹ thuật – Công nghệ, hay các trường thuộc khối  Nông – Lâm – Ngư nghiệp, hoặc các trường thuộc khối Luật – Kinh tế cho thấy không hiện hữu một nữ cán bộ quản lý nào ở chức vụ trưởng.

- Những trường đại học nghe có “chất nữ”, như đại học sư phạm thì việc quản lý hoạt động khoa học được “san bớt” cho nữ. Tuy nhiên nữ vẫn chỉ tập trung ở vị trí “lãnh đạo phó”– 50/50%

- Không có đến 20% nữ cán bộ ở các trường đại học được phân là người phụ trách chính về hoạt động khoa học.

Công việc quản lý hoạt động khoa học ở các trường đại học thực chất không khó khăn đối với một số nữ trí thức. Chúng tôi tin là sẽ có ai đó trong số nữ giảng viên ở các trường đó có thể làm được. Liệu có sự định kiến trong phân cấp quản lý ở các trường đại học do nhận thức của chúng ta bị dập khuôn theo vai trò giới: Đã là người quản lý thì phải là đàn ông?

Bình đẳng giới là một vấn đề nhạy cảm đối với cả hai giới. Đôi khi người ta cứ tránh nhắc đến cụm từ này vì sợ bị hiểu nhầm là “phụ nữ muốn tranh dành quyền lãnh đạo của nam giới”; hoặc sợ bị gán cho rằng “nữ trí thức là nguyên nhân làm rối gia đình, làm đổ bể gia đình”. Điều này có nghĩa là nhận thức của chúng ta về bình đẳng dựa trên quan điểm giới không phải lúc nào cũng đúng. Các bảng số liệu 2 và 3 mà chúng tôi nêu ra dưới đây chỉ là những con số ví dụ cụ thể qua đó giúp chúng ta nhìn nhận một thực trạng định kiến và phân biệt đối xử đối với nữ trí thức rộng lớn hơn, bao trùm trên bình diện quốc gia (Trong thực tế, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội lại là một trong số ít các trường đại học có một nữ quản lý ở cấp cao nhất – phó hiệu trưởng và có 5 nữ chủ nhiệm khoa, giám đốc trung tâm và nhiều nữ phó chủ nhiệm khoa).

Bảng 2: Tổng số giáo viên và sinh viên

(Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội)

Tổng số

Nam

(%/tổng số)

Nữ

(%/ tổng số)

Giáo viên

49.2 /171 người

50.7 /176 người

Sinh viên

15.61 /912 người

84.39 /4928 người

Ví dụ, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội (ĐHKHXH&NV HN) đến cuối năm 2009 có số lượng giáo viên nam là 171 và nữ là 176. Sự xê lệch về con số đã đủ khiến cho trường “rung chuông báo động” về sự mất cân bằng giới tính trong giáo viên. Đây là sự thật. Tuy nhiên, nếu so sánh tổng số sinh viên nam và nữ của toàn trường thì sự chênh lệch giới tính giữa các giáo viên trong trường thật sự không có gì đáng lo sợ. Hiện nay (2010) số sinh viên nữ chính quy của trường là 4928 người, trong khi nam sinh viên chỉ có 912 người. Với tỷ lệ sinh viên nữ đang gấp 6,4 lần so với sinh viên nam, thì tỷ lệ giáo viên nam chiếm 49,2% so với 50,7% số giáo viên nữ là quá lý tưởng. Điều cần nói là, khi nhận thức về sự cân bằng, chúng ta thiếu nhạy cảm về nhận thức giới. Điều này có thể dẫn đến hành vi phân biệt ứng xử trong tuyển dụng cán bộ, như vô tình cho phép “nới lỏng” tiêu chuẩn tuyển cán bộ nam và “xiết chặt” đối với ứng viên nữ, ngay cả khi họ vượt trội tiêu chuẩn chung.

Xét trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học của trường ĐHKHXHNV HN, chúng ta dễ nhận thấy các nữ trí thức ngày càng đóng góp nhiều hơn vào hoạt động chuyên môn. Có vẻ như giáo viên nữ đang dần bình đẳng trong tiếp cận với nguồn lực khoa học. Tuy nhiên người ta cũng dễ nhận ra những đề tài tầm cỡ nhỏ, ít tiền giáo viên nữ thường đảm nhận. Có nhiều lý do khách quan dẫn đến tình hình này, trong đó có lý do chính nhất là do “Nữ trí thức không đủ năng lực cạnh tranh với nam giới”. Điều này nói lên rằng vấn đề bình đẳng giới cần nhìn nhận từ thực tế phụ nữ đang ở vị trí thấp kém so với nam giới trong nhiều khía cạnh và điều này có nguyên nhân từ sự phân biệt đối xử trong quá khứ và hiện tại. Việc chấp nhận phương thức đối xử khác nhau giữa nhóm trí thức nữ và nam để tạo điều kiện cho nhóm nữ có thể dần tiến kịp với nhóm nam và để chính nhóm nam giới có cơ hội tự hoàn thiện mình là điều cần thiết. Cách làm này sẽ giảm đi mối quan ngại mang tính dập khuôn là nữ không được việc bằng nam.

Xét trong lĩnh vực quản lý, Nghị quyết 11 của bộ chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đát nước đã xác định các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Tuy nhiên thực tế ở tất cả các cấp tỷ lệ lãnh đạo nữ hầu như rất thấp. Ví dụ, ở cấp bộ trưởng, Việt nam chỉ có một nữ trên tổng số 24 bộ trưởng.

Nhìn xuống cấp thấp hơn, như ở trường Đại học ngoại ngữ, ĐHQGHN, số lượng cán bộ giảng dạy là nữ chiếm hơn 4/5 tổng số cán bộ của trường – 409 cán bộ (năm 2009). Riêng số giảng viên nam từ 1998 đến này chưa bao vượt quá 100 cán bộ, trong khi sinh viên của trường chủ yếu lại là nữ. Tuy nhiên trường cũng không có nhu cầu hoặc không thể tìm được một cán bộ quản lý cấp trường là nữ.  Dưới đây là tâm sự của một nữ PGS, TS ở phòng quản lý khoa học, trường ĐHNN: “Số lượng nữ giới ở trường ngoại ngữ rất đông và họ đã cống hiến cho xã hội rất nhiều, tham gia đào tạo hàng vạn cử nhân ngoại ngữ. Nhưng một thực tế cũng rất là đáng buồn, bao nhiêu năm chưa bao giờ có nữ nằm trong đội ngũ lãnh đạo của ban giám hiệu. Vậy mấu chốt ở đâu? Tôi nghĩ rất nghiêm túc rằng: Chế độ của chúng ta vẫn là phụ quyền, những vấn đề của phụ nữ không được quyền quyết định, vì đại đa số những nhà lãnh đạo từ trên xuống thì vấn là nam giới. Cái khó của nữ trí thức chúng ta là như vậy.

Rõ ràng chúng ta chưa có chế tài giám sát việc thực thi các nghị quyết liên quan đến nữ nói chung và quyền bình đẳng giới nói riêng. Hãy cho nữ trí thức những cơ hội để họ có thể được trưởng thành và được quyết định những vấn đề liên quan đến họ. Xem xét về địa vị người nữ trí thức trong các chức vụ quản lý, câu hỏi chúng tôi đặt ra là: Tại sao có quá ít phụ nữ làm công tác quản lý?

Có thể chỉ ra những định kiến giới như là rào cản vô hình đối với nữ trí thức, những người có khả năng hoạt động trong lĩnh vực quản lý và thực tế cho thấy việc xã hội hóa nghề nghiệp của nữ giới không theo hướng làm lãnh đạo. Nếu chúng ta bắt đầu từ việc xã hội hóa trẻ em gái hiện nay trong các gia đình thì có vẻ như nữ trí thức có thể đã bị tách ra khỏi thế giới nghề nghiệp có tính chất quản lý từ trước khi các bé ra đời. Trong nhiều gia đình Việt Nam, chúng ta vẫn giáo dục trẻ em gái theo khuôn mẫu giới truyền thống một cách vô thức. Cha mẹ thường cho các bé gái những con búp bê để sau này các bé biết nuôi con, chăm sóc người khác; cho chơi các đồ hàng để sau này chúng biết làm bếp giỏi; dạy trẻ em gái chăm ngoan, nghe lời người trên theo khuôn mẫu nữ truyền thống, người phụ nữ tề gia giỏi, mà không kết hợp dạy cho trẻ em gái tính chịu trách nhiệm, tự duy độc lập, khả năng hoạt động đa dạng và chơi những trò sáng tạo như trẻ em trai. Vấn đề không phải là dạy cho bé gái nam tính giống bé trai, mà giáo dục cho các bé gái những phẩm chất, năng lực phù hợp với yêu cầu của cuộc sống để các bé gái trưởng thành và vững vàng trong cuộc sống.

Vào tuổi trưởng thành, các sinh viên nữ dù đã cố gắng học tập để “vượt qua chính mình”, nhưng phần nhiều trong số họ chỉ được nhận làm những công việc được xác định là của phụ nữ, như làm giáo viên các cấp dưới, thư ký giám đốc, kế toán…và thế giới nghề nghiệp của các nữ trí thức trẻ này bị thu nhỏ cả về số lượng và chất lượng. Trong quá trình lao động, các công việc mà nữ trí thức được giao thường không có tính chất thử thách, kém tự do sáng tạo, bị hạn chế môi trường rèn luyện để trưởng thành. Cuối cùng, tại những thời điểm cân nhắc vào các vị trí quản lý, có sự phân biệt đối xử trong đề bạt. Các tiêu chuẩn lựa chọn một người làm quản lý được đặt ra có vẻ phù hợp với những phẩm chất của một người đàn ông, hơn là phù hợp với một vị trí công việc cụ thể. Ví dụ họ thường tuyển nam giới vì cho rằng: nam giới mạnh mẽ, quyết đoán, ít bị rằng buộc bởi gia đình… Rõ ràng cuộc đời nghề nghiệp của nữ trí thức đã bị “tấm trần kính” vô hình cản trở.

Xem xét cụ thể vấn đề tuyển dụng lao động ở nhóm trí thức, khía cạnh định kiến giới nổi lên khá rõ. Bằng cách liệt kê 1000 quảng cáo tuyển lao động có trình độ tối thiểu từ cao đẳng đang đăng trên trang Vietnamworks (tháng 2 năm 2010), chúng tôi nhận thấy có 16% tổ chức, cơ quan yêu cầu rõ ràng về giới tính của người dự tuyển. Trong đó, những công việc như: kỹ sư công nghệ, kỹ sư kinh tế, trưởng phòng, giám đốc hay giám sát bán hàng, trợ lý nhân sự, nhân viên thiết kế web, quản lý isso .v.v… đều được ấn định của nam giới. Những công việc của nữ giới thường là: chuyên viên bảo hiểm, trợ lý kinh doanh, trợ lý hay thư ký giám đốc, chăm sóc khách hàng, nhân viên đào tạo, kế toán, nhân viên văn phòng v.v… Nhìn vào 1000 quảng cáo này chúng ta thấy việc chọn vị trí công việc đã được ấn định từ sự phân loại ứng viên đó là nam giới hay nữ giới. Cách phân biệt ứng xử trong tuyển chọn lao động đã vô hình gạt lao động nữ, trí thức nữ khỏi thế giới nghề nghiệp, mà ở đó họ được đào tạo nghiêm túc và có không ít phụ nữ muốn được cống hiến, muốn được trưởng thành trong nghề nghiệp.

Đọc hộp một dưới đây chúng ta sẽ thấy được khả năng làm lãnh đạo, quản lý của nữ trí thức, nếu họ được sống trong môi trường làm việc không có định kiến giới. Điều này cũng giải thích vì sao có nhiều nữ trí thức trở thành những lãnh đạo giỏi trong các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam.

Hộp 1

Nữ lãnh đạo giỏi hơn nam?

Với tư cách giám đốc tài chính và là thành viên hội đồng quản trị của những công ty Accenture, Travelers, Viacom và Wawa, tôi quan sát thấy nhiều trường hợp phụ nữ đưa ra những nhận xét và mối quan ngại mà nam giới chưa kịp nhìn thấy. Họ gợi lên những vấn đề trọng điểm, thúc đẩy mọi người thảo luận sôi nổi, để cuối cùng cho ra kết quả làm việc tốt nhất, với sự nhất trí cao độ của các thành viên nhóm.

Cách tốt nhất để bồi dưỡng một phụ nữ vào dàn lãnh đạo là CEO của công ty phải cùng làm việc sâu sát với cô ấy trong từng dự án cụ thể. Từ những cơ hội đó, cô ấy vừa học tập kinh nghiệm, vừa tạo mối quan hệ vững chắc, để có thể phát huy tối đa năng lực khi làm giám đốc hoặc lên vị trí lãnh đạo sau này.

Phụ nữ cũng cần tìm hiểu, quen biết, học tập từ những nam doanh nhân khác trong dàn lãnh đạo. Những nhân vật đó có thể sẽ cùng các chị làm việc với chức danh ngang hàng sau này. Những cuộc điện thoại thân tình, bàn sâu về tình hình công ty và diễn biến kinh tế thế giới giúp họ tăng khả năng phân tích tình hình…

                         Nguồn:  Doanh nhân Sài Gòn,  Người dịch: Bách Hợp

3. ÁP LỰC ĐỐI VỚI NỮ TRÍ THỨC

Những ý tưởng dưới đây, thu được từ các cuộc trò chuyện với nữ trí thức, phần nào làm rõ những rào cản trong phát chuyển chuyên môn và vị thế xã hội của nữ trí thức,

  • Nữ trí thức vẫn còn thiếu ý chí, chưa tự tin, ham muốn quyền lực kém hơn nam giới, nữ trí thức vẫn còn an phận.
  • Nữ trí thức bị ràng buộc tâm trí, sức lực vào gia đình, họ có trách nhiệm nhiều hơn trong việc chăm sóc con cái, nội trợ gia đình.
  • Xã hội và các chính sách, luật chưa thực sự ủng hộ, khuyến khích nữ giới phát triển chuyên môn và làm lãnh đạo.

Vậy, những sức ép xã hội cụ thể nào một trí thức nữ có thể gặp phải? Đối với nữ trí thức, áp lực “vượt lên chính mình” có lẽ là khá nặng nề. Họ cần vượt qua cái rào cản của tính an phận khi khoác danh là nữ trí thức. Mặt khác, để làm tốt công việc chuyên môn yêu thích, nữ trí thức lại phải cố gắng thu xếp ổn thỏa việc gia đình để tránh thiên hạ nhòm ngó và liên tưởng đến “một mụ đàn bà hãnh tiến”. Tuy nhiên sự cố gắng của xã hội nói chung và của nữ trí thức sẽ không là gì nếu gia đình không thực sự ủng hộ - ủng hộ bằng hành động và mọi mặt đối với nữ trí thức. Phần dưới đây sẽ phân tích nhanh những áp lực cụ thể đối với nữ trí thức.

  • Áp lực vượt lên chính mình

An phận là thuộc tính tâm lý cho phép con người bằng lòng với thân phận, hoàn cảnh của mình. Cá nhân có tư tưởng an phận sẽ dễ dàng chấp nhận hiện thực cuộc sống và không có mong muốn gì hơn. Đối với người trí thức, tính an phận là cái gây khó khăn, gây cản ngại (về mặt tâm lý) cho phát triển chuyên môn và vị thế xã hội của mỗi người. An phận là một loại áp lực mà nữ trí thức cần phải tự vượt qua.

Vì sao tính chất an phận thường thấy ở trí thức nữ mà ít thấy ở trí thức nam? Có lẽ việc xã hội hóa trẻ em theo mô hình phụ thuộc giới tính của trẻ - theo kiểu nữ giống mẹ, nam giống bố đã tạo nên tính an phận ở nhóm nữ. Cách cha mẹ mua đồ chơi gì cho con, nói chuyện gì với con, bảo con làm việc gì trong nhà, và rèn tính cách nào cho con... phần lớn tuỳ thuộc đứa trẻ là con trai hay con gái, và ở trường học,  việc giáo viên ứng xử với học sinh như thế nào cũng được dập khuôn tuỳ theo giới tính của chúng, và trong xuốt 18 năm đầu của quá trình xã hội hoá là theo xu hướng giáo dục các em gái thiên về “nữ tính”, như nhẹ nhàng, dịu dàng; biết chấp nhận, chịu đựng; biết lắng nghe, vâng lời… nên ở trẻ em gái xuất hiện tính an phận là điều dễ hiểu. Với cách giáo dục này thì trẻ em gái ở nhà nghe bố mẹ, người lớn; đến trường nghe thầy cô; đi làm nghe thủ trưởng và tính cách này được tiếp tục củng cố và trở nên bền vững hơn khi các cô gái vào vai người vợ, người mẹ trong gia đình.

Những nghiên cứu của chúng tôi vào năm 2000 về tính an phận của nữ trí thức, sau 10 năm đưa lại cho những trí thức trẻ xem họ vẫn thấy phù hợp với nữ trí thức trong giai đoạn hiện nay. Đó là:

  • Bằng lòng, thoả mãn với những gì đang có,
  • Không chịu được căng thẳng do công việc, ngại khó khăn,
  • Không thích tranh luận lâu về đề tài khoa học,
  • Ngại thay đổi, ngại phấn đấu,
  • Trông chờ vào sự sắp đặt của cấp trên,
  • Đặt công việc gia đình cao hơn công việc cơ quan .

Lý giải nguồn gốc vì sao vẫn còn nhiều nữ trí thức có tính an phận, những người tham gia phỏng vấn cho rằng: do họ không muốn va chạm hay đối đầu; không muốn có thêm rắc rối trong cuộc sống; do tính tự ti; do gánh nặng công việc gia đình; do không muốn tiến thân; do muốn ưu tiên sự thăng tiến cho người chồng; do người chồng chưa thực lòng ủng hộ; do xã hội chưa quan tâm tới nữ trí thức.v.v...và .v.v…

Tính an phận của nhiều chị em nữ có thể được cải thiện nếu người chồng trong gia đình, thủ trưởng ở cơ quan giúp họ thay đổi. Tuy nhiên, có một thực tế dễ nhận thấy là: Khi người đàn ông trong vai trò thủ trưởng, anh ta đòi hỏi các nữ trí thức phải hoàn thành tốt công việc mà anh ta giao. Những họ trong vai trò là người chồng lại khó có thể chấp nhận việc vợ mình ham công việc chuyên môn, sao nhãng việc chăm sóc gia đình. Khuôn mẫu mà nhiều nam giới ngày nay thích thường là một người phụ nữ nhẹ nhàng, có chút an phận. Nếu cô ta thích làm chuyên môn thì cũng không sao, tuy nhiên cô ta phải “đảm việc nhà”- vì đó là trách nhiệm của người vợ trong gia đình. Như một giáo viên trẻ tâm sự: ”Chồng em thường nói, cô muốn học hành lên cao đến đâu tôi cũng không cản, tuy nhiên việc cô không lo toan gia đình, đón con lúc sớm lúc muộn thì không thể chấp nhận được. Tôi lấy vợ chứ không phải lấy người học cao. Nhà này thừa trí thức rồi” (nữ 35 tuổi làm quản lý cấp cơ sở).

Những quan niệm của người chồng theo hướng ràng buộc nữ trí thức trong trách nhiệm gia đình và ủng hộ tinh thần nữ trí thức nếu họ muốn phát triển chuyên môn được nhiều chị em chia sẻ. Có vẻ như còn nhiều nam giới và cả dư luận xã hội chưa thực sự ủng hộ nữ trí thức trong việc giúp học an tâm làm chuyên môn, như người vợ luôn sẵn lòng ủng hộ cho người chồng. Việc đánh giá nữ trí thức theo khuôn mẫu của người nội trợ là cơ sở cho sự nảy sinh, và củng cố tính an phận của nữ trí thức. Xem ra bước qua được áp lực xã hội để vượt lên chính mình của nữ trí thức không hề dễ.

  • Áp lực trách nhiệm gia đình

Khi nói về những cản trở trong sự nghiệp chuyên môn, nguyên nhân đầu tiên mà nhiều nữ trí thức đề cập đến là do nam giới còn chia xẻ không tương xứng trách nhiệm công việc gia đình, chăm sóc con cái với phụ nữ. Theo đánh giá của nữ trí thức, các công việc gia đình (nội trợ, dọn dẹp, giặt giũ, chăm sóc con cái và các thành viên khác trong gia đình...) là nguyên nhân chính hạn chế khả năng phát triển chuyên môn của họ.

Có một thực tế là nam giới thường ít bị ràng buộc bởi các công việc gia đình nên họ có thời gian, sức lực để chuyên tâm làm một công việc đến cùng. Khi thời gian lao động của phụ nữ bị xé lẻ bởi nhiều việc vặt không tên trong gia đình thì khả năng tập trung chuyên môn của họ sẽ bị ngắt quãng và khó chuyên sâu. Logic thông thường là khi nữ trí thức tham gia ngày càng nhiều trong các lĩnh vực hoạt động chuyên môn và xã hội, thì sự tham gia của người đàn ông trong các công việc gia đình cần phải được tăng lên. Tuy nhiên, nghiên cứu của Robinson (1997) cho thấy số lượng thời gian người chồng sử dụng cho công việc gia đình và chăm sóc con cái không liên quan đến việc vợ của anh ta có một công việc được trả lương hay không. Có nghĩa là người phụ nữ dù là ai, như thế nào thì công việc gia đình và chăm sóc con cái vẫn là bổn phận của họ, bất chấp họ làm nội trợ hay lao động kiếm tiền. Hiện tượng này có thể cũng xảy ra ở Việt nam, khi còn không ít những người chồng chỉ làm một số công việc nhất định trong gia đình, công việc được gọi là nam tính. Trong một cuộc trò chuyện với các giảng viên nữ tại ĐHQGHN, GS.TSKH Ngô Thị Thuận (ngành Hóa học) có nói: “Để làm được khoa học, điều quan trọng nhất là quyết tâm của bản thân. Các em hãy chọn người bạn đời phù hợp, biết chia sẻ với mình. Gia đình là một động lực rất quan trọng để ủng hộ người phụ nữ làm khoa học, gia đình có hạnh phúc, êm ấm thì người phụ nữ mới có thể làm khoa học tốt. Các em hãy phấn đấu làm những cái mà mình mong muốn, phải có chí hướng và hoài bão

   Việc nam giới ít quan tâm đến công việc gia đình còn được sự ủng hộ ngầm của người phụ nữ. Nhìn chung, nữ trí thức có xu hướng coi trọng nghề nghiệp của người chồng, ngay cả khi người vợ cũng đi làm cả ngày và có công việc quan trọng không kém người chồng. Trong hội thảo”Doanh nhân nữ trong thời kỳ hội nhập” được tổ chức chiều 18/11/2009 tại Hà Nội, khi được hỏi về những trở ngại đối với doanh nhân nữ, khoảng 80% những người được hỏi đề cập đến áp lực cao từ công việc và gia đình và sự thiếu hụt thời gian Một hạn chế rất rõ nét mà các nữ chủ doanh nghiệp đang phải đối mặt là người nữ lãnh đạo doanh nghiệp vừa phải quản lý, điều hành doanh nghiệp, vừa phải đảm trách việc nhà.

Liệu có phải tất cả nữ trí thức đều bị công việc gia đình gây cản trở đến hoạt động trí tuệ của họ? Chắc chắn là không phải. Quan sát cuộc sống xung quanh chúng ta, có không ít nữ trí thức duy trì một cách không thuần nhất việc thực hiện các chức năng gia đình như một cơ chế tự vệ, nhằm che đậy, biện minh cho tính "an phận" và lười nhác của họ trong hoạt động chuyên môn. Trò chuyện với một nghiên cứu sinh trẻ của một viện nghiên cứu, chị nói: "Phụ nữ ham hố công việc chuyên môn sẽ ảnh hưởng đến quan hệ tình cảm, thậm chí nó làm cho phụ nữ già nhanh, không có thời giờ tự làm đẹp, chồng có thể kiếm cớ đi với người khác. Học cao để mà làm gì!". Điều chị nói và công việc chị đang làm thực sự là mẫu thuẫn.

Sự ưu tiên cho gia đình, và làm tốt công việc chuyên môn là điều khó khăn, nhưng nhiều nữ trí thức đã thực hiện được. Trong trường hợp khác, nữ trí thức có thể chỉ làm tốt một trong hai nhiêm vụ. Đó là sự lựa chọn của mỗi người. Điều không hay là có không ít nữ trí thức bù trừ công việc chuyên môn bằng công việc gia đình, khi họ cố “gồng” vào nhiệm vụ chăm sóc chồng, con như một sự lý giải vô thức những thất bại, những căng thẳng trong hoạt động nghề nghiệp của họ - Một công việc chắc chắn khó khăn và vất vả hơn làm nội trợ! Và cuối cùng khi không có công việc nào làm họ thấy hài lòng thì chính các nữ trí thức lại phóng chiếu những thất vọng của mình vào chồng, con, tạo nên những rối loạn tâm lý trong gia đình.

Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin trích lại vài đoạn bài viết của cố BS. Nguyễn Khắc Viện (bài đăng từ thập kỷ 60,thế kỷ XX) để thấy được một cái nhìn trí tuệ và đầy chất nhân văn của ông trước những bất bình đẳng đối với nữ trí thức.

Phận đàn bà ngày nay

        Tôi không bàn đến cái khổ cực của người đàn bà nhà nghèo chịu hai tầng áp bức bóc lột; người đàn bà trung lưu con nhà khá giả, như cô Kiều, cô Vân thì sao? Kiều thì khổ, Vân thì không. Vân rất an phận làm người đàn bà, cả một nền giáo dục, lễ nghi tín ngưỡng đã tạo cho Vân một tâm lý an phận, gặp được bố mẹ nhân từ, chồng thành đạt, con ngoan là thỏa mãn không ước mơ gì hơn. Vì Vân không có tài như Kiều, chắc học hành cũng không được bao nhiêu. Xã hội cũ phân chia phần, xếp ghế đâu đấy cho mỗi người, ai chấp nhận cái tôn ti trật tự ấy là sống yên ổn, không dằn vặt, trăn trở. Chỉ có những người đàn bà có học, có tài mới khổ…

       Freud cho rằng mỗi em gái đều có những lúc mơ ước làm trai; có lẽ điều ấy trong xã hội xưa chỉ đúng với những người đàn bà có tài. Mơ ước làm đàn ông, theo Freud, ở thời thơ ấu là có được "Con chim", tôi nghĩ rằng mơ ước chủ yếu là có một sự nghiệp giữa xã hội, cho nên lúc còn ngây thơ thì mơ được có "con chim". Trong một xã hội do đàn bà ngự trị, có lẽ con trai mơ ước có cặp vú nở nang…

       Tôi khoanh vấn đề lại chỉ nói đến những người đàn bà có tài, nghiên cứu khoa học hay sáng tác văn nghệ. Cứ cho là đẻ hai con, như vậy trong cả cuộc đời, ít nhất cũng phải tạm ngừng hoạt động ngành của mình mỗi lần 18 tháng, tập trung vào đứa con. Trong một cuộc đời 40 năm, thì thời gian 36 tháng cũng không đến nỗi quá dài. Trong thời gian ấy, gia đình, và đặc biệt đức ông chồng cũng phải tập chung giúp vợ, ông bà cũng vậy. Về phía xã hội, đối với những người phụ nữ có tài năng cũng nên tập trung giúp đỡ trong giai đoạn này về vật chất, về sắp xếp công tác…

      Với một sự giúp đỡ tích cực ít nhất sẽ có một số chị em có tài không đến nỗi phải qua tấn kịch lựa chọn găy gắt giữa sự nghiệp và tình ruột thịt với con cái…

                                                     Nguồn Tạp chí Tri thức trẻ, 24/08/2009

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Thị Minh Đức (chủ biên), Nữ tiến sỹ đại học quốc gia Hà Nội, NXBĐHQGHN, 2006.
  2. Trần Thị Minh Đức, Các thực nghiệm trong tâm lý học xã hội, NXBĐHQGHN, 2008.
  3. Nguyễn Thị Tuyết, cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường Đại học Việt Nam theo hướng bình đẳng giới, Luận án tiến sỹ quản lý giáo dục, 2007.
  4. Nguyễn Khắc Viện, Tạp chí Tri thức trẻ, ngày 24/08/2009
  5. Tập tài liệu về nữ trí thức trong các trường Đại học, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ, ĐHQGHN, 2006.