Tue, 06/24/2014 - 14:14 - 606 Views

Ngày 21 tháng 05 năm 2014, Trung tâm Nghiên cứu Giới và Xã hội- trường Đại học Hoa Sen đã tổ chức buổi hội thảo mang tên "Bình đẳng giới ở Thụy Điển" với diễn giả là của Cô Märian Linnéa Nordqvist.

Thành phần tham dự viên có sự góp mặt của Tiến sĩ Thái Thị Ngọc Dư - Giám Đốc Trung tâm Nghiên cứu Giới và Xã hội, cùng quý khách mời là giảng viên đến từ các trường đại học, chuyên viên các cơ quan/trung tâm nghiên cứu và sinh viên đang học tập tại TPHCM, và đặc biệt có một chuyên viên đến từ tỉnh Vĩnh Long.

Đôi nét về diễn giả

Cô Märian Linnéa Nordqvist là sinh viên của trường Đại học Linnaeus tại Thụy Điển. Cô học chuyên ngành Khoa học Chính trị/ Châu Âu học, và cô cũng theo học ngành Tội phạm học và Xã hội học, ngoài ra cô có tham gia một học kỳ tại trường Cao đẳng Georgia và trường Đại học quốc gia tại Hoa Kỳ. Từ tháng 2/2014 đến nay, cô tham gia làm tình nguyện viên cho hai tổ chức phi chính phủ của Việt Nam là: Trung tâm LIFE (Trung tâm Nâng cao Chất lượng Cuộc sống) và Trung tâm SDRC (Trung tâm Nghiên cứu-Tư vấn Công tác Xã hội & Phát triển Cộng đồng), với các công việc như: viết đề xuất dự án, hiệu đính tài liệu,  tóm tắt báo cáo và giảng dạy tiếng Anh.

Tóm tắt nội dung buổi hội thảo

Mục đích chính của buổi hội thảo là đem đến cho tham dự viên một cái nhìn tổng quan về thực trạng bình đẳng giới ở Thụy Điển. Theo báo cáo thường niên “Global Gender Gap Report 2013” (Báo cáo khoảng cách giới toàn cầu năm 2013) của diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) được công bố ở Thụy Sỹ, Thụy Điển xếp vị trí thứ 4 trên tổng số 134 quốc gia trên thế giới về bình đẳng giới. Ngày nay, Thụy Điển là một  nước quân chủ lập hiến với thể chế đại nghị và một nền kinh tế phát triển cao. Thụy Điển có diện tích  lớn thứ ba trong Liên minh châu Âu, với dân số 9,5 triệu người. Thụy Điển đứng đầu về chỉ số dân chủ trên thế giới theo tạp chí The Economist và đứng thứ bảy trong Liên hiệp quốc về chỉ số phát triển con người. Thụy Điển trở thành thành viên của Liên minh châu Âu vào năm 1995 và là quốc gia không sử dụng đồng tiền chung EURO.

Để đánh giá và đưa ra được vị trí thứ hạng bình đẳng giới của các quốc gia trên thế giới, người ta đã dựa trên 4 khía cạnh là sức khoẻ và cơ hội sống (bao gồm chăm sóc y tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ sinh và tử vong giữa nam và nữ), giáo dục và đào tạo (bao gồm tỷ lệ mù chữ, giáo dục phổ thông ,dạy nghề và hướng nghiệp), tham gia hoạt động chính trị (tham gia quốc hội và chính phủ) và cơ hội về kinh tế (bao gồm mức lương, địa vị trong quản lý và thị trường lao động).

Nhà nước Thụy Điển đã thực sự nỗ lực trong việc xây dựng chính sách về y tế và giáo dục để có được thứ hạng cao về bình đẳng giới. Theo  sự chia sẻ của cô Märian Linnéa Nordqvist thì Thụy Điển xếp hạng thứ 4 và Hoa Kì xếp hạng thứ 23 là vì phụ nữ tại hai nước này vẫn chưa được bình đẳng với nam giới trong hai lĩnh vực là tham gia chính trị và tham gia kinh tế. Tỷ lệ nữ giới tham gia chính trị vẫn còn rất thấp so với nam giới trong cương vị lãnh đạo nhà nước, chính phủ và trong các cấp quản lý kinh tế.

Các mốc thời gian quan trọng trong lịch sử phát triển bình đẳng giới ở Thụy Điển

  • Năm 1919, Phụ nữ Thụy Điển được quyền bầu cử (năm 1906 tại Anh, 1913 tại Na-uy và 1946 tại Việt Nam).
  • Năm 1921, lần đầu tiên phụ nữ có thể bầu cử và ứng cử. Trong năm này, có 5 phụ nữ tham gia quốc hội: Kerstin Hesselgren, Elisabeth Tamm, Bertha Wellin, Agata Östlund, Nelly Thüring.
  • Năm 1952, phụ nữ có quyền (với một số giới hạn) như nam giới đối với các công việc phục vụ dân sự.
  • Năm 1947, Karin Kock trở thành người phụ nữ đầu tiên ở vị trí bộ trưởng tại Thụy Điển. 
  • Năm 1950, cả cha và mẹ đều được coi là người giám hộ hợp pháp (cả cha mẹ đều có quyền như nhau) của các con.
  • Năm 1955, luật pháp quy định người lao động nữ được quyền nghỉ ba tháng có lương để chăm sóc con.
  • Năm 1965, bạo hành về tình dục trong hôn nhân là một tội hình sự.
  • Từ giữa thập niên 1960, công tác của nhà nước về chăm sóc trẻ em được mở rộng và ngày nay tất cả cha mẹ đều được đảm bảo tiếp cận nhà trẻ để gửi con.
  • Năm 1971, thuế thu nhập cá nhân đã thay thế cho thuế thu nhập gộp của hai vợ chồng. Việc đóng thuế thu nhập cá nhân khẳng định trụ cột trong gia đình là cả hai người nam và nữ, góp phần khuyến khích người phụ nữ tham gia lao động, trong khi trước kia chỉ có nam là trụ cột, còn nữ chỉ làm nội trợ.
  • Từ năm 1974, Thụy Điển trở thành quốc gia được nghỉ có lương nhiều ngày nhất thế giới khi sinh con. Điều này cho phép cha mẹ chia sẻ với nhau công việc chăm sóc con. Đây là chính sách tạo điều kiện cho người mẹ tranh thủ thêm thời gian để tập trung hoạt động kinh tế. Ngoài ra, chính sách này giúp ta định nghĩa lại từ “nam tính” nghĩa là người bố cũng phải có nghĩa vụ chăm sóc con.
  • Năm 1979, ra đời bộ Luật chống phân biệt đối xử về giới trong lĩnh vực việc làm.
  • Năm 1980, người con cả của Quốc vương- bất kể giới tính- sẽ là người kế vị đầu tiên.
  • Năm 1999, hình sự hóa việc mua dâm. Để giải quyết vấn nạn nhức nhối này, Thụy Điển đã thực sự táo bạo khi ban hành chính sách bắt người mua dâm chứ không cấm người bán dâm. Cụ thể nội dung bộ luật này, đứng trên quan điểm pháp lý, một phụ nữ bán dâm là vì họ bị hoàn cảnh ép buộc. Còn đối với đàn ông, bất cứ ai bị bắt khi đang mua dâm đều bị phạt một khoản tiền lớn, bị công khai danh tính trước cộng đồng và có thể phải ngồi tù tối đa là 4 năm. Đây được xem như một hành động nhằm ủng hộ bình đẳng giới tại Thụy Điển.
  • Thập niên 1970 và 1980 là thời gian quan trọng để quảng bá bình đẳng giới ở Thụy Điển. Phụ nữ chính thức được quyền làm việc toàn thời gian. Trước đây, với mô hình truyền thống, nam giới là lao động chính còn nữ giới chỉ làm công việc nội trợ, thu nhập của hai vợ chồng được nhập chung để đánh thuế. Vì vậy, với sự thay đổi trong mô hình phân công lao động giữa nam và nữ giới, với hai vợ chồng đều là lao động chính, việc đóng thuế thu nhập ngày nay được thực hiện theo mô hình cá nhân và phụ nữ được khuyến khích đi làm và đóng thuế với mức thấp hơn trước đây khi gộp chung thu nhập.
  • Bắt đầu từ năm 1974 đến nay, người cha có quyền được nghỉ 50% số ngày để chăm sóc con mới sinh. Cả cha và mẹ có quyền được nghỉ có lương tổng cộng 180 ngày để chăm sóc con mới sinh.
  • Năm 1995, bắt đầu có tháng của cha, điều này có nghĩa là người cha được nghỉ có lương 30 ngày (và không thể chuyển phần ngày nghỉ này cho người mẹ). Vào năm 2002, nhà nước lại cho thêm một tháng của cha nữa. Hiện nay, cha mẹ được nghỉ có lương 480 ngày/ 1 đứa con chào đời. Số ngày này được cho là sẽ chia đều giữa cha và mẹ. Điều này có nghĩa là đối với mỗi đứa trẻ mới sinh ra, mỗi người cha hoặc mẹ đều được nghỉ có lương 240 ngày.
  •  Năm 1979, ra đời bộ Luật bình đẳng về cơ hội cho nam và nữ ở thị trường lao động, “cấm phân biệt đối xử về giới tính ở thị trường lao động và yêu cầu mọi nhà tuyển dụng, ở khối nhà nước và tư nhân, đều phải tích cực quảng bá các cơ hội bình đẳng về việc làm cho nam và nữ”.

Tóm tắt về công tác bình đẳng giới

  • Nhấn mạnh tính chất cá nhân (nam, nữ, người chồng, người vợ) thay vì chỉ chú trọng một cách tổng quát đến gia đình.
  • Nam và nữ có vai trò bình đẳng; cả hai đều có quyền ngang nhau về việc làm, và điều kiện lao động ngang nhau, nhưng cũng nhấn mạnh tới sự phân công các công việc không lương (việc nội trợ) một cách bình đẳng.
  • Thực hiện chính sách về bình đẳng giới với những thay đổi về vai trò giới trái với tập tục xưa.
  • Bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục. Tỷ lệ học sinh nữ chiếm 60% và trình độ học vấn của nữ giới qua các con số thống kê là học giỏi hơn nam giới.
  • Tuy nhiên, khi bước ra thị trường lao động,  nữ giới lại gặp phải rào cản văn hóa đã ăn sâu trong truyền thống của xã hội, nên các nhà tuyển dụng vẫn ưu tiên hơn đối với nam giới, thu nhập phụ nữ hưởng chỉ bằng khoảng từ 60% đến 86% của nam giới (nhưng mức thu nhập này cũng thay đổi tùy nghề nghiệp), và nữ chưa được ưu tiên nắm giữ cương vị chính trị.
  • Có khoảng 82% phụ nữ là người lao động, so sánh với 89% nam giới là người lao động.
  • 30% nữ giới làm việc bán thời gian, so sánh với 10% nam giới làm việc bán thời gian, vì nữ thường ở nhà để giữ con nhiều hơn so với nam.
  • Thụy Điển chưa bao giờ có nữ Thủ tướng.

Các thách thức còn tồn tại

Tuy là quốc gia đứng thứ 4 thế giới về bình đẳng giới, nhưng những nhà hoạt động về bình đẳng giới của Thụy Điển có ý thức rằng nếu chỉ  chú trọng vào những “thành công” trước đây và so sánh với các nước khác thì sẽ bỏ quên những vấn đề còn tồn tại.

  • Phân biệt đối xử về việc làm và tiền lương
  • Các chính sách và cách thực hiện chưa đạt hiệu quả cao
  • Tập tục xưa về vai trò giới vẫn còn ảnh hưởng lớn: Cơ cấu quyền lực giữa nam và nữ; huyền thoại về người đàn ông Thụy Điển bình đẳng giới
  • Bạo hành phụ nữ

Hỏi đáp 

Sau phần diễn thuyết của diễn giả là phần hỏi đáp giữa diễn giả với tham dự viên. 

Giải thích rõ hơn về chính sách cha/mẹ được nghỉ có lương 480 ngày/con?

 Điều này có nghĩa là một lần sinh con thì cả cha và mẹ được nghỉ tổng cộng là 480 ngày. Người cha buộc phải nghỉ tối thiểu là 60 ngày thì người mẹ mới được hưởng các ngày nghỉ còn lại của cha nếu người cha chưa nghỉ hết tổng 240 ngày (nghĩa là người mẹ sẽ được nghỉ tổng cộng 420 ngày). Người cha phải nghỉ ít nhất là 60 ngày, nếu không thì sẽ bị mất ngày phép, chứ không được chuyển 60 ngày phép tối thiểu này sang cho người mẹ. Những ngày nghỉ nêu trên không bao gồm ngày lễ và thời hạn 480 ngày sẽ được quy định rõ trong khoảng thời gian cụ thể, không được kéo dài qua nhiều năm.

- Tại sao các nhà tuyển dụng vẫn chỉ ưu tiên chọn nam giới trong khi trình độ học vấn của nữ giới lại cao hơn?

Việc ưu tiên chọn nam giới đã trở thành một định kiến trong xã hội và  các ngành nghề lao động thường chuộng nam giới vì họ nghĩ nam giới khỏe mạnh và lanh lợi hơn.

- Việc áp dụng bộ luật bắt người mua dâm chứ không cấm người bán dâm có thực sự làm giảm đi tệ nạn mại dâm tại Thụy Điển?

 Đã có hơn 70% người dân ủng hộ chính sách này và nó đã thực sự có tác động tích cực khi làm giảm đáng kể tỷ lệ mại dâm  trên quốc gia này. Bằng chứng cho thấy ở Stockholm (thủ đô của Thụy Điển)  có 200 gái bán dâm, trong khi trước khi lệnh cấm được ban hành là khoảng 300 người. Ở Malmo (thành phố đông dân thứ ba của Thụy Điển), con số này được cho là giảm từ 200 xuống còn 67 gái bán dâm. Tuy nhiên tại một số quốc gia như Đức, Hà Lan,… thì mại dâm lại được nhà nước công nhận là một việc làm.

Tỷ lệ phụ nữ thích làm các công việc bán thời gian cao hơn nam giới có gây ảnh hưởng gì đến tương lai của họ khi về hưu?

Một khi người phụ nữ quyết định chọn công việc bán thời gian thì lương của họ thường thấp hơn nam giới và khi về hưu thì chế độ lương hưu cũng sẽ thấp.

Việc phân chia tài sản giữa hai vợ chồng sau khi ly hôn?

Theo pháp luật hiện hành, sau khi không còn chung sống thì mọi tài sản (nhà cửa, tiền trong ngân hàng,…) sẽ được chia đôi cho cả người vợ và người chồng. Nếu trước khi kết hôn, họ có ký kết hợp đồng quy định rõ tài sản nào là của ai, thì phần tài sản đó sẽ không bị chia đôi.  

Ở Thụy Điển đã có những chương trình nào để giáo dục các em nam về bình đẳng giới?

Nam sinh được học cách làm công việc thường ngày của người phụ nữ như nấu ăn và dọn dẹp nhà cửa, các em được giáo dục từ cha mẹ. Ở Thụy Điển có một điều đặc biệt là các em trai và em gái được gọi chung là “bé” và không có khái niệm về phân chia màu sắc (như bé gái thường mặc áo hồng, bé trai mặc áo xanh), nhận thức về giới được đưa vào chương trình giáo dục từ khi trẻ em được 12 tuổi. 

Đại từ “hen” (tạm dịch: “người ấy”) cho phép ta chỉ ra đối tượng mà không cần nêu lên giới tính của đối tượng đó, thay cho “han” (anh ấy) và “hon” (chị ấy).

Đại từ “hen” (phát âm giống như từ “chicken” trong Tiếng Anh) xuất hiện từ đề xuất của những nhà ngôn ngữ học Thụy Điển vào thập niên 1960. Người Thụy Điển  tin rằng không thể đạt được bình đẳng giới thực sự nếu không có trung lập về giới. Một khi còn có sự phân biệt, nó sẽ tái khẳng định sự khác biệt giữa nam và nữ và duy trì các khuôn mẫu này kéo dài mãi mãi.

Khi nói đến tính trung lập về giới, Thụy Điển là một trong những quốc gia tiến bộ nhất trên thế giới. Thụy Điển có tỉ lệ phần trăm phụ nữ làm việc cao nhất, các cửa hàng quần áo thường không có các khu riêng biệt cho nam và nữ, và trường mẫu giáo với sự loại bỏ phân biệt giới tính.

(Theo Kevin Mathews - Care 2 Make a Difference)

Cảm nghĩ của cô về bình đẳng giới tại Việt Nam?

Việt Nam tuy đứng thứ 74 trên thế giới nhưng xét trên khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam đã và đang có rất nhiều hành động thay đổi tích cực trong mối quan hệ cũng như phân công lao động giữa nam giới và nữ giới. Chiến lược về bình đẳng giới được nhà nước thực hiện với việc tạo nhiều điều kiện về kinh tế, văn hóa và xã hội. Việt Nam trong tương lai chắc hẳn sẽ có những bước tiến dài hơn trong vấn đề này.

Nguyễn Hoàng Ánh Linh ghi lại