Mon, 10/31/2016 - 14:01 - 84 Views

Hội thảo khoa học “Giới và An sinh xã hội” do Trường Đại học Lao động và Xã hội – Cơ sở II  và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TP.HCM đồng tổ chức tại Trường Đại học Lao động và Xã hội – Cơ sở II (ĐHLĐXH -CSII) vào ngày 25/10/2016 vừa qua. Hội thảo đã đề cập đến nhiều chiều cạnh mới trong tiếp cận bất bình đẳng giới và các vấn đề xã hội khác có liên quan. Đặc biệt, đến với hội thảo là sự hiện diện của bà Trần Thị Kim Thanh – Trưởng phòng Bình đẳng giới thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) TP.HCM, PGS. TS. Bùi Anh Thủy - Phó Hiệu trưởng nhà trường, cùng lãnh đạo các khoa, đại diện đến từ các trung tâm nghiên cứu và cơ sở xã hội trên địa bàn TPHCM.

PGS. TS. Bùi Anh Thủy phát biểu khai mạc hội thảo khoa học

Mặc dù Việt Nam đã tham gia ký công ước CEDAW từ trên 30 năm nay, Luật về bình đẳng giới ở nước ta cũng đã được ban hành, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế trong việc vận dụng và truyền thông đến nhân dân. Thách thức hiện nay ở xã hội chúng ta là phải hiến kế được những phương hướng triệt để hơn, mới hơn và để làm được điều đó, ta phải nâng cao nhận thức về giới của đội ngũ lao động hiện nay. Vì vậy, hội thảo khoa học kỳ này có hai chủ đề chính, phiên buổi sáng tập trung vào chủ đề “Bất bình đẳng giới và các vấn đề xã hội”  và phiên buổi chiều có chủ đề “Bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm”.

Mở đầu phiên buổi sáng, bài tham luận: “Một số kinh nghiệm quốc tế về hệ thống dịch vụ can thiệp phòng, chống bạo lực gia đình” của PGS. TS. Bùi Thị Xuân Mai (Khoa Công tác xã hội – Trường Đại học Lao động và Xã hội CSII) về nguyên nhân thường gây ra vấn nạn bạo hành trong gia đình và hướng can thiệp của xã hội tại các quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp, Hà Lan,…Cụ thể là hệ thống điện đàm (đường dây nóng) tiếp nhận thông tin về người bị bạo lực gia đình, cung cấp nhà tạm lánh và tham vấn điều trị cho nạn nhân; đào tạo kỹ năng tư vấn tâm lý và hỗ trợ pháp lý cho nhân viên chuyên trách chống bạo hành gia đình. Ngoài ra, bài tham luận đặc biệt nhấn mạnh đến hướng bồi dưỡng, cải tạo tư tưởng cho người gây ra bạo lực nhằm hạn chế thấp nhất vấn nạn trên. Theo diễn giả, muốn xem đất nước nào văn minh hay không thì hãy nhìn cách ứng xử của nam đối với nữ.

PGS. TS. Bùi Thị Xuân Mai trình bày tham luận

Tham luận “Vấn đề giới - Bình đẳng giới trong gia đình hướng đến việc làm bền vững” của ThS. Trần Thị Kim Thanh – Trưởng phòng Bình đẳng giới thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP.HCM về vị trí của giới và gia đình trong công tác xã hội và an sinh xã hội. Bài tham luận đã khẳng định tầm quan trọng của bình đẳng giới trong việc phát triển bền vững giai đoạn 2015 – 2030 theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc. Cụ thể tại Phòng Bình đẳng giới - Sở LĐTBXH TP.HCM đã áp dụng giờ làm việc linh động đối với những nhân viên nữ có con nhỏ, họ được phép làm việc tại nhà và giao trả sản phẩm qua email, như vậy sẽ vừa làm giảm bớt nạn kẹt xe và tai nạn giao thông. Trọng tâm của bài đã phân tích tính cốt lõi của công tác xã hội trong việc tạo lập và duy trì quan hệ với các cá nhân, gia đình, nhóm và tổ chức để không ngừng huy động họ, nâng cao cuộc sống và tăng cường các kỹ năng cần thiết cho họ trong quá trình hướng đến một quốc gia bình đẳng về giới.

Tham luận “Phát huy vai trò của cha mẹ trong đảm bảo quyền bình đẳng giới giữa trẻ em nam và trẻ em nữ trong gia đình” của TS. Phạm Văn Tuân (Khoa Công tác xã hội – Trường ĐHLĐXH-CSII) về thực trạng vai trò của cha mẹ trong việc truyền đạt kiến thức về bình đẳng giới cho trẻ em hiện nay. Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn cư trú Phường Tân Hưng Thuận quận 12 với 100 hộ gia đình có ít nhất hai con nhỏ gồm cả trẻ em nữ và trẻ em nam. Nhìn chung, kết quả thu được nằm ở mức khá cho thấy hầu hết phụ huynh đã thực hiện đúng vai trò của mình trong khuyên dạy con em, tuy nhiên công tác này chưa được thực hiện đầy đủ vì thời gian người mẹ dành cho việc nuôi dạy con vẫn còn nhiều hơn so với người cha trong gia đình. Cho nên, công tác đảm bảo tốt vai trò của cha mẹ trong gia đình đóng vai trò tiên quyết cho sự nghiệp bình đẳng giới về lâu dài vì trẻ em chính là nhân tố phát triển xã hội mai sau.

ThS. Nguyễn Thị Hương (Khoa Công tác xã hội – Trường ĐHLĐXH - CSII đã trình bày bài tham luận “Thực hiện bình đẳng giới – Vấn đề cấp thiết ở Việt Nam hiện nay” nhằm nói lên tính cấp thiết trong việc giáo dục cho người lao động hiểu được quyền lợi cá nhân và các chính sách nhà nước ban hành trong việc thực thi luật về bình đẳng giới.

Tham luận “Các hoạt động trợ giúp nạn nhân bị bạo lực gia đình trên cơ sở giới” của ThS. Hoàng Thị Thu Hoài (Khoa Công tác xã hội – Trường ĐHLĐXH - CSII về thực trạng xử lý nạn bạo hành gia đình của địa phương và các cơ sở hỗ trợ nạn nhận bị bạo lực gia đình. Nhìn chung số vụ bạo hành bị đưa ra thụ lý không cao vì vấn đề tài chính trong gia đình (người chồng bị phạt tiền thì cũng ảnh hưởng tài chính chung trong gia đình),  và hình ảnh của bản thân, cho nên, việc bạo hành được cho là chuyện riêng tư và gia đình sẽ tự giải quyết chứ không đem ra tố tụng. Bên cạnh đó, bài tham luận cũng nêu lên được thực trạng thiếu chuyên môn, nghiệp vụ của nhân viên đến từ các trung tâm hỗ trợ khi xử lý trường hợp bạo lực gia đình phần nào gây tâm lí hoang mang cho người bị hại, cản trở các công tác điều trị tiếp sau đó.

ThS. Trần Thị Kim Thanh trình bày tham luận

Tại phiên buổi chiều, các tham luận tập trung vào chủ đề: “Bình đẳng giới trong giáo dục và việc làm”. Mở đầu là bài tham luận của ThS. Lê Thị Mỹ Hiền, Câu lạc bộ CTXH chuyên nghiệp TP.HCM, với nhan đề: “Khía cạnh giới trong cuộc sống và nghề nghiệp của cán bộ các Ủy ban nhân dân phường xã tại TP.HCM”. Trong cuộc sống hàng ngày tại gia đình, nam và nữ lãnh đạo phường, xã cũng chịu ảnh hưởng bởi khuôn mẫu giới và sự phân công lao động theo giới. Nam lãnh đạo ít tham gia làm việc nhà hơn nữ lãnh đạo. Trong nghề nghiệp, định kiến giới làm cho tỷ lệ nữ lãnh đạo thấp hơn so với nam ở cấp phường, xã nói riêng và ở các cấp, các ngành nói chung.    

ThS. Trần Thị Kim Thanh tiếp tục trình bày bài tham luận thứ hai mang tên: “Những vấn đề giới trong chính sách và pháp luật giáo dục, đào tạo – việc làm bền vững”. Bài tham luận có đưa ra một vài trường hợp ví dụ về việc xóa bỏ định kiến giới khi chọn nghề, chẳng hạn hiện nay ở TP.HCM, có 16 giáo viên mầm non là nam giới. Theo nghiên cứu, trẻ em rất thích giáo viên nam, có thể vì từ nhỏ đến nay các em thường tiếp xúc với nữ giới nhiều hơn, chẳng hạn như mẹ, bà hoặc người giúp việc. Tuy nhiên, nhằm chống lạm dụng tình dục, giáo viên nam chỉ dạy trong lớp, còn khi cần chăm sóc các em ăn uống, nghỉ ngơi thì các giáo viên sẽ chăm sóc học sinh cùng giới tính với mình. Hoặc tại các trường dạy nghề nay đã không còn phân biệt học viên là nam hay nữ, tuy nhiên bản thân học viên và gia đình họ vẫn còn phân biệt nghề nào phù hợp với giới tính nào. Những ngành nghề cần sự sáng tạo thì ít có nữ tham gia, chẳng hạn Khu công nghệ cao tại Quận 9, TP.HCM đang rất thiếu nguồn nhân lực là nữ. Nói đến chính sách thì hiện nay nữ nông dân vẫn chưa được hưởng các chính sách bảo vệ người lao động. Tóm lại, cần đầu tư cho nữ giới và trẻ em gái vì sẽ mang lại hiệu quả kép, vừa tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, vừa tác động tích cực đến ý thức về bình đẳng giới ở thế hệ trẻ sau này.

Bài tham luận “Thực trạng giới trong lao động việc làm” của ThS. Vũ Thị Lụa, Khoa Công tác xã hội, Trường ĐHLĐXH(CSII) cho thấy nam và nữ có cơ hội ngang nhau trong học tập ở các bậc từ đại học trở xuống. Cơ hội học tập của nam nhiều hơn nữ được thấy đặc biệt ở bậc tiến sĩ và cơ hội được phong học hàm của nam cũng nhiều hơn nữ.

ThS. Nguyễn Thị Thúy, Trường ĐHLĐXH(CSII), trình bày tham luận: “Thực trạng lồng ghép giới trong giảng dạy học phần “Tuyển chọn và sử dụng nhân lực” cho sinh viên bậc đại học chuyên ngành Quản trị nhân lực, Trường ĐHLĐXH(CSII)”. Giảng viên thường đưa ra các bài tập tình huống trong tuyển dụng và sử dụng nhân lực có bất bình đẳng giới cho sinh viên thảo luận. Chẳng hạn như đối với cán bộ phụ trách tuyển dụng, khi sàng lọc hồ sơ ứng viên phải cho điểm lượng hóa theo các tiêu chí để tránh định kiến giới, thiên vị nam ứng viên hơn nữ ứng viên. Ta cần phân tích và so sánh các tỷ lệ như: (1) tỷ lệ nam và nữ ứng viên đạt yêu cầu về hồ sơ so với tổng số ứng viên nộp hồ sơ; (2) tỷ lệ nam và nữ ứng viên được tuyển dụng trên tổng số ứng viên nộp hồ sơ; (3) tỷ lệ nam và nữ ứng viên được tuyển thực tế so với  tỷ lệ nam và nữ ứng viên được tuyển theo kế hoạch.

Toàn cảnh hội thảo

Bài tham luận thứ năm trong phiên buổi chiều là: “Bất bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động- việc làm ở huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre” của ThS. Phạm Thanh Hải và ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Phương. Đây là một huyện nghèo, ở cuối dòng sông Cửu Long, đất đai bị nhiễm mặn. Thực hiện Đề án 1956/QĐ-TTg đã thu hút được nhiều nữ (2.800 người) được đào tạo nghề và tạo việc làm. Về phía nhân viên và cán bộ trong huyện, số cán bộ nữ được đề bạt tham gia giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt còn rất thấp (03/18 người). Giải pháp là cần phổ biến sâu rộng hơn các chủ trương chính sách về bình đẳng giới và tạo điều kiện nhiều hơn cho nữ để họ tham gia vào những vị trí phù hợp.

Trong phần thảo luận, có ý kiến cho rằng do hiện nay nữ nghỉ hưu trước nam 5 năm, trong khi bản thân người nữ lại phải mất nhiều thời gian cho việc làm mẹ, vì vậy để bình đẳng cho nữ thì khi cử cán bộ trong quy hoạch đi học nâng cao trình độ, ta nên cử nữ đi học trước và nam đi học sau.

Nhìn chung, đã có nhiều ý kiến được nêu ra tiếp sau phần trình bày các tham luận, nhằm bổ sung và làm rõ hơn những vấn đề xã hội được nói đến. Đây là một hội thảo đầu tiên có sự phối hợp giữa Trường ĐHLĐXH- CSII với Sở LĐTBXH TP.HCM. Theo kế hoạch 2017-2020  sắp tới đây của Sở LĐTBXH TP.HCM với trọng tâm nhằm nâng cao nhận thức của giảng viên, học sinh và sinh viên các trường về bình đẳng giới nhằm thực hiện Chương trình Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới, các bạn sinh viên của Trường ĐHLĐXH- CSII sẽ là cánh tay nối dài của Sở LĐTBXH TP.HCM trong việc lồng ghép giới vào công tác xã hội.

 

Nguyễn Hoàng Ánh Linh

và Lê Thị Hạnh tường thuật