Thu, 01/28/2016 - 15:07 - 146 Views

Hội thảo đã được diễn ra vào ngày 23/12/2015, để trình bày kết quả nghiên cứu về đề tài “Rào cản pháp luật và thực tiễn đối với người lao động di cư trong tiếp cận an sinh xã hội”. Đề tài nghiên cứu này đã được thực hiện từ cuối năm 2014 đến tháng 7/2015, bởi tổ chức Oxfam hợp tác với nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ (SISS) và Mạng lưới Hành động vì quyền của người lao động di cư (M.net) trong khuôn khổ chương trình Quyền lao động của Oxfam tại Việt Nam. Nghiên cứu đã phỏng vấn hơn 1.000 người tại 4 tỉnh có đông người lao động di cư: Hà Nội, Bắc Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) và Đồng Nai. Người lao động di cư được nghiên cứu trong đề tài này là những người làm việc với các nghề: may, điện tử, xây dựng và bán hàng rong. 


PGS. TS. Lê Thanh Sang, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Vùng Nam bộ, Trưởng nhóm nghiên cứu trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu

Theo kết quả nghiên cứu, ta thấy một số đặc điểm, chẳng hạn như: về trình độ học vấn của những người lao động di cư, công nhân điện tử thường có trình độ học vấn cao nhất (cấp 3), trong khi người bán hàng rong và công nhân xây dựng thường có trình độ học vấn thấp nhất.  Ở các tỉnh phía Bắc, người lao động di cư thuộc nhiều nhóm dân tộc ít người, trong khi ở miền Nam chỉ có dân tộc Khmer.

Nhìn chung, nghiên cứu này chú trọng tới việc tiếp cận các dịch vụ an sinh xã hội của người lao động di cư với sự cập nhật tình hình tại bốn địa phương điển hình như đã nêu. Các phát hiện chính của nghiên cứu này như sau:

  • Hệ thống pháp luật Việt Nam trong những năm vừa qua đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc bảo vệ quyền an sinh xã hội (ASXH) của người lao động và mở rộng độ bao phủ của hệ thống ASXH theo gợi ý của Khuyến nghị ILO về sàn ASXH cho toàn dân. Chẳng hạn như: Lao động phi chính thức được đưa vào điều chỉnh trong một loạt các luật như Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Việc làm, Luật Lao động là bước tiến mới trong đảm bảo ASXH toàn dân.
  • Người lao động di cư là một nhóm yếu thế và dễ bị tổn thương tại khu đô thị, tuy nhiên họ được tiếp cận rất ít tới các chính sách ASXH. Về việc làm, tỷ lệ thất nghiệp của người di cư cao và một bộ phận đáng kể có công việc thiếu ổn định. Mức thu nhập cơ bản của hầu hết người lao động di cư chưa đáp ứng đủ nhu cầu sống tối thiểu, và họ thường bị loại ra khỏi các chương trình giảm nghèo và vay vốn tạo việc làm.
  • Về bảo hiểm xã hội (BHXH), 99% người lao động di cư khu vực phi chính thức không có bảo hiểm xã hội, để hỗ trợ họ giảm thiểu rủi ro khi bị ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già, và chủ động bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro đó.
  • Về bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) người lao động di cư (NLĐDC) khó đáp ứng được điều kiện tham gia bảo hiểm và phương pháp tính hỗ trợ BHTN, tạo ra sự bất bình đẳng
  • Về bảo trợ xã hội, NLĐDC chưa được tính đến như là một đối tượng được thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội tại nơi đến.
  • Về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, NLĐDC gặp khá nhiều rào cản, bao gồm các quy định về phân bổ ngân sách dựa trên dân số thường trú; một số qui định về tiếp cận dịch vụ ASXH còn gắn với hộ khẩu; chi phí và chất lượng dịch vụ; và từ chính nhận thức của NLĐDC.
  • Một số chính sách ASXH chưa phù hợp với tình hình thực tế và đặc điểm của NLĐDC.
  • Hạn chế trong công tác truyền thông về chính sách ASXH là rào cản lớn đối với việc tiếp cận ASXH của NLĐDC.
  • Có nhiều sáng kiến tốt, thực hành tốt tại cấp cơ sở với sự phối hợp của các cơ quan chính quyền, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội và các cá nhân tính cực có thể gợi ý cho việc xây dựng và nhân rộng các mô hình hỗ trợ NLĐDC.


Thảo luận các đề xuất giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận an sinh xã hội cho người lao động nhập cư

Lê Thị Hạnh