Thu, 11/20/2014 - 13:20 - 5744 Views

Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Khoa Xã hội học-Công tác Xã hội-Đông Nam Á học thuộc trường Đại học Mở - TP.HCM, đã tổ chức một hội thảo vào ngày 9/10/2014. Đó là một buổi trao đổi học thuật với chủ đề “Hiện tượng di cư và vấn đề di dân dưới góc nhìn xã hội họcdo hai diễn giả là Ths. Phạm Như Hồ và TS. Nguyễn Bảo Thanh Nghi cùng trình bày.

Tổng quan về di cư

Từ rất xa xưa cho đến nay, trong lịch sử thế giới ta đã thấy có những cuộc di cư vì lý do thiên tai như  bão lụt, núi lửa phun…;  lý do chiến tranh hoặc lý do kinh tế: người dân đi tìm cơ hội mới, họ muốn sống trong một đất nước tự do, cởi mở hơn…

Từ khi có sự phát triển của khoa học kỹ thuật, có máy bay, tàu thuyền lớn vượt đại dương, tàu hỏa tốc hành…, nói chung là các phương tiện vận chuyển nhanh, an toàn và rẻ tiền đã tạo thuận lợi hơn nữa cho việc di cư. Tùy theo chính sách của từng nước, người di cư có thể được nhập cư một cách dễ dàng hay khó khăn. Chẳng hạn như trước đây Mỹ khuyến khích dân châu Âu nhập cư để làm nông nghiệp. Ngày nay, có nhiều loại máy móc gia dụng giúp ta giảm được thời gian làm việc nhà. Tuy nhiên, nhiều người vẫn không có thời gian rảnh hơn, vì yêu cầu của công việc chính tăng lên, nên người dân các nước công nghiệp phát triển thường thuê mướn người nhập cư từ các nước thuộc thế giới thứ ba đến giúp làm việc nhà cho họ hoặc những công việc thuộc về chăm sóc như:  y tá bệnh viện, nhân viên chăm sóc tại nhà  cho người già, người bệnh, người khuyết tật.  Các nông trại cũng cần người lao động nhập cư để làm việc thu hoạch, nuôi gia súc… Nhìn chung, người lao động nhập cư thường là người lao động cấp thấp, giá rẻ, không cần giấy tờ chính thức. Công việc đưa người lao động nhập cư đến các nước thường được tổ chức chặt chẽ và có hệ thống theo những “đường dây” (chain migration). Việc di cư là một hiện tượng phổ biến mà hầu hết các nước đều đối mặt.

Di cư nội địa ở Việt Nam

Theo các nghiên cứu điều tra dân số gần đây của Việt Nam qua các cuộc tổng điều tra dân số 1989, 1999, 2009, ta thấy có nhiều vùng có hiện tượng di cư. Tuy nhiên, điều này nhắc ta nhớ lại lịch sử Việt Nam từ một ngàn năm nay đã có nhiều cuộc Nam tiến, những luồng di cư đã định hình nước Việt Nam. Do đó, việc nghiên cứu về di cư đòi hỏi loại hình nghiên cứu liên ngành, với các ngành như: tâm lý học, địa lý nhân văn, xã hội học, dân số học, dân tộc học… Trong phạm vi bài trình bày này, diễn giả chỉ nói về mặt lý thuyết nghiên cứu xã hội học, không nói về các số liệu. Diễn giả mong muốn đem lại một góc nhìn mới về một số vấn đề trong các luồng di cư ở Việt Nam.

Theo lý thuyết cổ điển về dân số chịu ảnh hưởng của kinh tế học, các luồng di cư như là kết quả của sự vận hành những quy luật của thị trường lao động. Người lao động ở nơi thừa lao động sẽ di chuyển đến nơi thiếu lao động.  Ưu điểm của phương pháp nghiên cứu này là cho ta có cái nhìn vĩ mô, giúp ta thấy được những biến đổi theo thời gian và xu hướng  ở các vùng miền khác nhau, tạo cơ sở cho những ước đoán sự phát triển dựa trên các công thức toán học giúp cho những người hoạch định chính sách.  Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là thường dựa trên tính chất quy luật- yếu tố này tất yếu sẽ tác động đến yếu tố kia- nên đã không quan tâm đến chủ thể của các luồng (trào lưu) di cư. Nếu ta chỉ nói tới những con số ta sẽ lãng quên người di dân và những vấn đề của họ, trong khi những vấn đề đó mới là điều quan trọng cần phải nghiên cứu. Chẳng hạn như động lực nào để họ quyết định ra đi, họ đi như thế nào, họ hội nhập như thế nào với môi trường mới.  Một nhược điểm nữa là phương pháp nghiên cứu theo lý thuyết cổ điển này không có khả năng nghiên cứu những thể loại, những phương thức di cư, trong khi phương pháp nghiên cứu xã hội học có xây dựng những phương pháp để tiếp cận các luồng di dân.

Nhà kinh tế học Gary Becker (giải Nobel năm 1992) nghiên cứu ở cấp độ cá nhân, ứng dụng lý thuyết về “sự lựa chọn hợp lý”, dựa trên nguyên lý: hành động của một con người bao giờ cũng dựa trên sự tính toán giữa chi phí và lợi ích (costs and benefits). Một nhà kinh tế học khác, ông Michael Todaro nghiên cứu động lực của di dân. Nhược điểm của cách nghiên cứu này là ông đã coi cá nhân như một đơn vị, một hạt nhân hoàn toàn biệt lập trong xã hội. Trong thực tế, quyết định di cư không mang tính cá nhân mà là một chiến lược mang tính gia đình.

Trên đây ta đã thấy những cách tiếp cận khác nhau về di cư. Đối với cách tiếp cận xã hội học, hình ảnh của người di cư chính là hình ảnh mà họ tự xây dựng về mình. Hình ảnh này cũng chịu tác động từ nhiều yếu tố khác nhau từ cộng đồng của di dân. Có một mối tương quan giữa nơi xuất cư và nơi nhập cư. Khi di cư đến thành thị, những người có quan hệ họ hàng hoặc cùng làng, cùng quê thường tập hợp lại và thành lập những khu, nhóm ở thành thị. Những khu này có thể được xã hội thành thị chấp nhận hoặc cũng có thể bị gạt ra ngoài lề xã hội. Vào đầu thế kỷ 20, hai nhà xã hội học William Thomas và Florian Znaniecki đã viết tác phẩm “The Polish Peasant In Europe and America” (“Người nông dân Ba Lan tại châu Âu và Mỹ”) nghiên cứu về hành trình của một di dân, mạng lưới các mối quan hệ xã hội, thông qua việc yêu cầu di dân nói lại những cảm nghĩ, thuận lợi và khó khăn của họ trong quá trình di cư. Theo nghiên cứu “Giới, di cư và tiền chuyển về” của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) năm 2004, di dân nội địa ở Việt Nam có xu hướng nữ hóa. Người ta có thể giải thích bằng yếu tố thuần kinh tế, như: Các nhà máy cần nhiều nữ công nhân hơn nam công nhân; kinh tế ở các siêu đô thị mang tính chất nhị nguyên với hai khu vực chính thức và phi chính thức mà ta rất khó phân định. Trong đó, khu vực phi chính thức với nhiều công việc phù hợp với phụ nữ, chẳng hạn như bán hàng rong, giúp phụ nữ có thể sống ở thành thị và tiết kiệm tiền để gửi về quê. Trước đây, trường Đại học Mở - TP.HCM (Thái Thị Ngọc Dư, Nguyễn Xuân Nghĩa) đã tiên phong trong công trình nghiên cứu về di cư, đó là đề tài "Nữ lao động nông thôn nhập cư trong khu vực phi chính qui tại Thành phố Hồ Chí Minh", cho thấy phụ nữ có điều kiện tốt để hội nhập môi trường mới. Người ta nghĩ khi hiện đại hóa, phát triển sản xuất thì khu vực phi chính thức sẽ thu hẹp lại, nhưng thực ra khu vực này lại càng gia tăng hơn.    

Di cư quốc tế

Trong di cư quốc tế, nước xuất cư là nơi thừa lao động hoặc người lao động hưởng mức thu nhập ít hơn so với công sức bỏ ra. Người lao động đi từ nước nghèo sang nước giàu. Ta thường nhắc đến các lý thuyết về lực hút và lực đẩy, lý thuyết về sự lựa chọn hợp lý (rational choice). Nơi tiếp nhận người nhập cư được hưởng lợi nhờ trả lương thấp cho người nhập cư đối với những việc mà người sở tại không muốn làm. Có hệ lụy mang tính truyền thông và xã hội học, đối với hình ảnh của dân nhập cư. Vào lúc kinh tế tăng trưởng tốt, hình ảnh của người lao động nhập cư được nhà nước tô vẽ cho rằng đó là làm tăng sự đa dạng văn hóa vùng miền và quốc gia. Nhưng khi kinh tế suy thoái, người nhập cư bị coi như những người trộm cắp.  

Tại nơi xuất cư có vấn đề chảy máu chất xám (brain drain), do đó nhiều nhà nước có chính sách thu hút lại chất xám (brain gain), trả lương cao cho người lao động hồi hương. Ngoài ra, ngày nay cũng có hiện tượng tuần hoàn chất xám (brain circulation) với những người lao động xuyên quốc gia, họ vẫn giữ mối liên lạc với cố quốc và đóng góp chất xám cho cả hai hoặc bốn, năm nước khác nhau.  

Lý thuyết mạng lưới. Để cảm thấy an toàn hơn, người di cư thường sống tập trung theo một số tiêu chí xã hội nhất định như: cùng gia đình, cùng quê, cùng bang hội (người Hoa). Người Hoa thường co cụm và gắn kết với nhau ở các vùng người Hoa (China town).  

Những người cùng xứ sở có khuynh hướng tập trung vào một ngành nghề (ethnic niche) nếu họ đủ sức mạnh. Chẳng hạn ở California có 90% người lao động của nghề làm móng tay (nail) và 50% chủ các tiệm làm móng tay là người Việt. Lý do là những người Việt không giỏi tiếng Anh dễ tiếp cận thông tin quảng cáo tuyển dụng (job ad) từ báo chí tiếng Việt xuất bản ở hải ngoại đăng tin tuyển lao động làm móng tay với chủ tiệm là người Việt. Nghề này dễ học, ít tốn kém học phí, chỉ cần học vài tháng là có thể đi làm. Kỳ thi tốt nghiệp về tay nghề làm móng cũng được tổ chức bằng tiếng Việt. Những điều này vô tình tạo nên một hệ thống khép kín, độc quyền (ethnic monopoly). Hệ quả là những người khác sắc tộc khó có thể chen chân vào được, vì không đọc được quảng cáo tuyển dụng. Lúc này sẽ có thể xảy ra hai khả năng, nghề này sẽ được nâng lên tầm quốc tế (trường hợp của người nhập cư gốc Do Thái với nghề bán lẻ và dịch vụ), hoặc là sẽ xảy ra cạnh tranh khốc liệt giữa những người trong ngành nghề này, và nghề làm móng của người Việt đã rơi vào trường hợp thứ hai. Những năm 1970-1980 là thời hoàng kim của nghề làm móng, một bộ móng giả có giá 80 USD, nhưng hiện nay, chỉ còn 30 USD.

Tính nhị nguyên của nền kinh tế ở siêu đô thị (megapolis). Bên cạnh nền kinh tế chính thức, còn có nền kinh tế phi chính thức. Trước kia, khi gặp thiên tai địch họa, nam thường di cư trước rồi quay về đón vợ con đi sau. Ngày nay lao động nữ thường di cư để làm nhiều nghề thuộc nền kinh tế phi chính thức, chẳng hạn như; y tá chăm sóc người bệnh tại nhà, vũ công ở quán bar, vì vậy nên ta gọi đó là sự nữ hóa của hiện tượng di cư.

Tiền tiết kiệm gửi về quê. Kiều hối là nguồn thu mà nước xuất cư nào cũng mong nhận được.

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CÁC DIỄN GIẢ

 

Phạm Như Hồ:  Tốt nghiệp Thạc sĩ ngành Xã hội học tại Sorbonne (Paris) năm 1969. Ông đã từng giảng dạy nhiều năm tại các trường đại học trong nước và quốc tế như Đại học Sorbonne, Đại học Văn Khoa Sài Gòn, Đại học Vạn Hạnh, Đại học Tổng Hợp TP.HCM, Đại học Mở TP.HCM. Ngoài ra ông còn có kinh nghiệm nghiên cứu trong các dự án với UNESCO.

 

Nguyễn Bảo Thanh Nghi: Tốt nghiệp Tiến sĩ ngành Xã hội học tại trường Đại học Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Bà nghiên cứu về di cư quốc tế, sự hòa nhập của di dân, đặc biệt là cộng đồng Việt kiều tại Hoa Kỳ, phát triển xã hội, giới và gia đình. Bài nghiên cứu về Việt kiều làm nghề móng (nail) ở Mỹ đã đăng trên tạp chí hàng đầu về mảng di cư quốc tế International Migration Review, và tái đăng trong cuốn Contemporary Asian America: A Multidisciplinary Reader của nhà xuất bản New York University Press. Hiện nay bà đang là Trưởng Bộ môn Xã hội học, Khoa Xã hội học–Công tác xã hội–Đông Nam Á của Đại học Mở - TP.HCM.

 

Lê Thị Hạnh ghi lại