Tue, 11/20/2012 - 13:46 - 410 Views

Đề tài “Phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý cấp xã/phường ở Hà Tĩnh hiện nay: Thực trạng và giải pháp” được thực hiện tại huyện Hương Sơn và TP Hà Tĩnh. có 372 người tham gia khảo sát (nam: 51,2% và nữ: 48,8%) trong độ tuổi 18-65.  30,9% cán bộ có trình độ trung học phổ thông, 42,2% có trình độ trung cấp/cao đẳng, và 22,8% có trình độ đại học/trên đại học.
Gần một nửa cán bộ (49,2%) có trình độ lý luận chính trị trung cấp, 28,1% sơ cấp và 2,5% cao cấp. Có 10,4% thuộc khối Đảng, 47% thuộc khối chính quyền, 40,9% thuộc khối đoàn thể 1,6%  thuộc các tổ chức khác. 11,9% giữ chức vụ bí thư/phó bí thư Đảng ủy, hoặc chủ tịch/phó chủ tích HĐND, 11,6% chủ tịch/PCT UBND, 4,2% Chủ tịch/PCT MTTQ, 17,6% chủ tịch/PCT Hội Phụ nữ, 15,8% chủ tịch/PCT đoàn thể khác, 29,3% chuyên viên và 9,6% khác. Nghiên cứu mô tả và tìm hiểu những động thái của sự thay đổi vị thế quyền lực giới cấp xã/phường tại tỉnh Hà Tĩnh hiện nay.
1. Thực trạng và xu hướng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý cấp xã/phường
Nam giới chiếm một tỷ trọng lớn (69,3%) trong hệ thống chính trị cấp xã/phường tại Hà Tĩnh. Tỷ lệ nữ cán bộ nắm giữ các chức vụ quan trọng còn quá ít (Bí thư/Phó bí thư Đảng ủy hoặc chủ tịch/phó chủ tịch HĐND chiếm 6,3% so với 18,1% của nam, 2,3% giữ chức vụ chủ tịch/phó chủ tịch UBND so với 21,9% của nam; trong khi đó, tỷ lệ nam và nữ giữa các chức vụ chủ tịch/phó chủ tịch các đoàn thể chênh lệch không nhiều (10,9% của nữ so với 21,3% của nam). Tuy nhiên 74,6% đối tượng cho rằng tỷ lệ phụ nữ trong chính trường sẽ tăng. Từ hiện trạng này có thể thấy, Hà Tĩnh đang thiếu hụt đội ngũ cán bộ nữ để quy hoạch, đề bạt vào hệ thống chính trị cơ sở. Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề vai trò của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý cấp xã/phường có tới 92,9% những người được hỏi đánh giá là rất quan trọng và quan trọng. Vai trò này được thể hiện qua các lĩnh vực:
- Đảm bảo bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý
Có 88,2% người trả lời “phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý sẽ đảm bảo bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý”, trong đó, nam đồng ý chiếm 47,7% so với 52,6% nữ được hỏi bày tỏ ý kiến đồng tình.
-  Trong công tác lãnh đạo, quản lý: Vai trò của người phụ nữ trong quá trình ra quyết định và thực thi các chính sách có hiệu quả được đánh giá thấp. Cụ thể, có 34,3% người trả lời cho rằng quá trình ra các quyết định lãnh đạo minh bạch và thu hút sự tham gia ở các bên liên quan; 22,8% đồng ý với có sự tham gia của phụ nữ thì quá trình thực thi chính sách hiệu quả hơn. Trong đó, lần lượt, nam đồng ý 40,6% so với 59,4% của nữ, 34,1% của nam so với 65,9% của nữ.
-  Trong cải thiện đời sống của cán bộ nữ: 63% và 71,2% người cho rằng sự tham gia vào lãnh đạo, quản lý của phụ nữ có vai trò cải thiện tốt hơn về đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Như phân tích ở trên, tiếng nói của phụ nữ trong ban lãnh đạo, quản lý ở cơ quan, tổ chức sẽ tạo ra sự chú ý của lãnh đạo, thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác nữ nhiều hơn và sẽ có sự quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ nhiều hơn.
- Trong các khía cạnh khác: Vai trò của phụ nữ trong việc thực hiện có hiệu quả các chương trình kinh tế và đấu tranh phòng chống tham nhũng được đánh giá không cao. Cụ thể, 28,4% và 18% người trả lời cho rằng vai trò của phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý làm cho việc thực thi các chương trình kinh tế hiệu quả hơn và hạn chế quá trình tham nhũng.
Sự tham gia của phụ nữ trong việc ra quyết định ở cấp xã/phường chưa thực hiện một cách đầy đủ, đặc biệt, tiếng nói của cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội chưa được chú trọng.
2. Những rào cản đối với phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý cấp xã/phường
2.1. Cơ hội đào tạo, bồi dưỡng
Có sự khác biệt không nhiều trong rào cản về cơ hội giáo dục, đào tạo ở nông thôn và thành thị (53,5% ở nông thôn so với 46,5% ở thành thị). Riêng đối với phụ nữ, 57,6% phụ nữ nông thôn cho rằng cơ hội đào tạo còn hạn chế so với 42,4% phụ nữ thành thị.
- Đối với nhóm tuổi, nhóm tuổi dưới 30 trả lời có hạn chế chiếm tỷ lệ cao nhất (31%), tiếp đến là nhóm 31-40 tuổi (28,6%), 41-50 tuổi (22,6%), trên 50 tuổi (17,9%). Có thể thấy nếu phụ nữ dưới 40 tuổi không được quy hoạch, đào tạo, họ sẽ khó có cơ hội tiếp tục những trình độ cao hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, khiến cán bộ nữ cũng  khó được đề bạt ở chức vụ cao hơn.
- Đối với nhóm phụ nữ giữ các chức vụ khác nhau, trong tổng số người trả lời có hạn chế về cơ hội đào tạo, nhóm phụ nữ giữ chức vụ chủ tịch/phó chủ tịch Hội Phụ nữ chiếm tỷ lệ cao nhất. Phải chăng, cán bộ phụ nữ ở đây chưa được quan tâm đúng mức? Nếu tiếng nói của người bảo vệ quyền lợi của phụ nữ nói chung, cán bộ nữ nói riêng sẽ ít được quan tâm trong hệ thống chính trị cấp cơ sở, quyền tham chính của phụ nữ sẽ bị hạn chế rất nhiều.
2.2. Quy định về tuổi nghỉ hưu:
Cả hai giới đều cho rằng những quy định về tuổi nghỉ hưu gây ra trở ngại trong công tác quy hoạch, đề bạt, đào tạo và bồi dưỡng (43,5% đối với nam và 58,3% đối với nữ; không đồng ý chiếm 49,2% đối với nam và 31,8% đối với nữ).
- Rào cản từ công tác khuyến khích, đề bạt cán bộ
Với nhận định “chưa có chính sách khuyến khích phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý”, có 49,6% cho rằng “đúng và rất đúng”; 36,1% nói “không đúng”; và 10,5% trả lời “không đúng hoàn toàn”. Trong đó, có 12,4% nam giới và 16,2% nữ  trả lời “rất đúng”; 29,5% nam và 41,6% nữ cho là “đúng”, “không đúng và không đúng hoàn toàn” chiếm 53,23% đối với nam so với 39,31% nữ. Có hai xu hướng trái ngược nhau: (1) tỷ lệ nữ trả lời đúng và rất đúng chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới; (2) tỷ lệ nam giới cho là không đúng và không đúng hoàn toàn chiếm tỷ lệ cao hơn nữ. Điều này cho thấy sự khác biệt về giới trong đánh giá về nhận định chính sách liên quan đến khuyến khích phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý.
-  Công tác quy hoạch, đề bạt cán bộ nữ ở chức vụ quản lý cao hơn
+ Nhìn chung, công tác quy hoạch, đề bạt cán bộ nữ ở địa phương rất được cấp đảng ủy quan tâm. Song, việc quy hoạch, đề bạt cán bộ nữ vào các vị trí chủ chốt vẫn còn hạn bởi lẽ vẫn còn định kiến giới, thiếu đội ngũ cán bộ nữ có trình độ chuyên môn hoặc đề bạt chưa chú ý đến năng lực, sở trường của cán bộ nữ.
+ Trong công tác quy hoạch, cho thấy việc “Xem xét, cất nhắc phụ nữ vào vị trí lãnh đạo khó khăn hơn nam giới”, 18,2% trả lời không đúng, 6,6% không đúng hoàn toàn.
2.3. Nhận thức về giới và định kiến giới
Có 11,9% trả lời rất đồng ý với các quan niệm truyền thống đã và đang cản trở đến sự phấn đấu của phụ nữ, 46,6% đồng ý và 41,5% không đồng ý. Như vậy, quan niệm truyền thống như giá trị, chuẩn mực quy định về người phụ nữ đã ảnh hưởng đến sự phấn đấu của cán bộ nữ hiện nay. Có sự khác biệt giới trong cách nhận thức giới và định kiến giới của cán bộ cấp cơ sở tại địa phương ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn. Ở nông thôn vẫn còn tồn tại quan niệm thiên kiến về hình ảnh của người phụ nữ làm công tác chính trị-xã hội.
Những biểu hiện của sự phân biệt giới trong lãnh đạo, quản lý:  Các cấp lãnh đạo thường ưu tiên chọn nam giới quy hoạch đào tạo chiếm 63,9%; Khung chính sách, pháp luật còn rào cản đối với phụ nữ chiếm 42,8%;  54,8% người trả lời cho rằng cử tri thương ưu tiên bầu nam giới vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; Gia đình và người thân ủng hộ và tạo điều kiện cho nam giới nhiều hơn chiếm 44,6%; Dư luận xã hội khắt khe với phụ nữ khi tham gia lãnh đạo, quản lý chiếm 20,5%. Như vậy, sự phân biệt giới trong lãnh đạo được thể hiện thông qua khung chính sách, công tác đào tạo, quy hoạch, gia đình và dư luận xã hội.
2.4. Phân công lao động trong gia đình
45,3% nam giới cho rằng họ gặp gánh nặng gia đình so với 54,7% của phụ nữ. Xét từng nhóm phụ nữ, một trong những khó khăn trong quá trình phấn đấu của cán bộ nữ là gánh nặng gia đình (chăm sóc con cái, việc nhà, người thân…), tỷ lệ này chiếm 63,8%. Trong đó, nhóm cán bộ nữ công tác ở khu vực nông thôn gặp khó khăn về gánh nặng gia đình chiếm 43,6% so với 56,4% ở nhóm cán bộ nữ thành thị. Mặc dù, sự chênh lệch không nhiều, nhưng đã cho thấy sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn.
Nhóm phụ nữ giữ chức vụ chủ tịch/phó chủ tịch Hội Phụ nữ và các tổ chức đoàn thể khác cho rằng gánh nặng gia đình là một trong những khó khăn làm ảnh hưởng đến sự thăng tiến chính trị (62,7% và 20,3%). Phụ nữ làm công tác chính quyền và đoàn thể cho rằng gánh nặng công việc gia đình là một trong những khó khăn cho sự phấn đấu của họ (37,9% và 55,3%).
3. Rào cản từ bản thân người phụ nữ
Qua khảo sát, rào cản từ phía bản thân của người phụ nữ thể hiện ở chỗ sự lựa chọn gia đình hay công việc. Sự lựa chọn của người phụ nữ: Cả hai giới không có sự khác biệt nhiều trong việc lựa chọn sự hài hòa giữa gia đình và sự nghiệp (48,8% của nam so với 51,2% của nữ). Xét riêng ở nhóm phụ nữ, người phụ nữ có xu hướng lựa chọn sự dung hòa giữa gia đình và công việc. Xu hướng này không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm phụ nữ thành thị, nông thôn, nhóm phụ nữ giữ các chức vụ khác nhau.
Như vậy, con đường phấn đấu của nữ cán bộ gặp nhiều cản trở, trong đó có rào cản chính bản thân họ. Năng lực, kinh nghiệm, tính cách, quan hệ xã hội, cộng với sự lựa chọn hài hòa giữa gia đình và công việc là những yếu tố tạo rào cản của bản thân người phụ nữ. Rào cản ấy dễ dàng qua đi nếu có sự hỗ trợ kịp thời về công tác đào tạo, bồi dưỡng, chính sách hỗ trợ và sự ủng hộ của gia đình, đặc biệt là người chồng.
4. Những liên hệ về chính sách nâng cao năng lực cán bộ nữ cấp xã/phường
Về thể chế, khung chính sách đối với cán bộ nữ
- Rà soát văn bản từ góc độ giới, đặc biệt các văn bản liên quan đến: (1) Độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng và (2) Độ tuổi đề bạt, bổ nhiệm. Thống kê tất cả các quy định khác nhau về độ tuổi giữa nam và nữ đang tồn tại trong các văn bản hiện nay, gồm nội dung quy định, cơ quan ban hành, năm ban hành, hiệu lực thi hành, đối tượng thực hiện, v.v...
- Quy hoạch đội ngũ nguồn cán bộ nữ làm công tác lãnh đạo, quản lý để tránh sự thiếu hụt về số lượng cán bộ nữ.
- Có cơ chế đảm bảo phụ nữ là chủ thể liên quan trực tiếp của quyền chính trị. Thay đổi nhận thức và hành vi xem phụ nữ là chủ thể trong quá trình thực hiện các văn bản pháp lý liên quan đến quyền của họ.
- Có chính sách hỗ trợ công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ nữ về vật chất cũng như tinh thần để họ có đủ điều kiện vượt lên chính mình vươn đến vị trí cao trong lĩnh vực tham chính.
Về điều kiện  kinh tế
Ngoài công việc tham gia chính trị cơ sở ở địa phương, phụ nữ cũng phải đối mặt với áp lực kinh tế như một vai trò kép. Vì vậy, đối với những tỉnh đặc thù, chính sách đãi ngộ cán bộ nữ với nhiều hình thức đa dạng cũng là nhân tố quan trọng để họ nắm bắt được cơ hội trong tham chính. Do đó, để đảm bảo người phụ nữ có cơ hội ngang bằng với nam giới trong tham chính ở cấp cơ sở, cấp ủy Đảng và chính quyền cần có cơ chế đảm bảo điều kiện kinh tế cho phụ nữ được độc lập khi tham chính thông qua các chế độ tiền lương và đãi ngộ hoặc các nguồn hỗ trợ khác.
Thay đổi định kiến giới trong xã hội – chia sẻ giá trị bình đẳng giới
Các cơ quan chức năng (Ban tuyên giáo, Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch, Đài truyền hình …) cần nâng cao chất lượng tuyên truyền để từng bước giảm thiểu tư tưởng định kiến xã hội đối với phụ nữ, thay đổi nhận thức, thái độ cho mọi người thấy được hiệu quả của việc đầu tư cho phụ nữ là thực hiện công bằng xã hội. 
Phát huy vai trò của người đứng đầu trong hệ thống chính trị
Cơ quan Đảng và Chính quyền địa phương cần có sự nhạy cảm giới. Người đứng đầu trong hệ thống chính trị có vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện, bồi dưỡng, quy hoạch, và đề bạt cán bộ nữ.
Tăng cường vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội cấp cơ sở trong công tác truyền thông nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi về phụ nữ tham chính ở cấp cơ sở.
Hội phụ nữ, Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Đoàn Thanh niên và các tổ chức chính trị- xã hội khác có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo quyền tham chính của cán bộ nữ. Cần phát huy vai trò của các tổ chức này trong việc đảm bảo quyền chính trị của cán bộ nữ, đặc biệt, trong công tác quy hoạch, đề bạt vào vị trí then chốt.
Tăng cường tính tích cực chủ động của nữ lãnh đạo cấp cơ sở
Người phụ nữ cần biết đấu tranh cho quyền lợi của bản thân; tự tin vào năng lực, khả năng của chính mình. Chủ động chia sẻ công việc gia đình và hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, xã hội được phân công.
Nguồn: http://www.gopfp.gov.vn