Wed, 11/26/2014 - 13:21 - 187 Views

Nguyễn Thị Thu, nguyên giám học trường Nữ Trung học Đồng Khánh

Tóm tắt

Sau năm 1945, hệ thống giáo dục Pháp-Việt đã cáo chung, Việt Nam xây dựng nền giáo dục của một nước độc lập. Nền giáo dục ấy tiếp tục kế thừa tinh thần khoa học và nhân bản của nền giáo dục Pháp-Việt, và kế thừa cả chương trình và cách tổ chức việc dạy và học. Tham luận này tập trung phân tích sự kế thừa này tại trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế. Ngoài ưu điểm nổi bật của chương trình Hoàng Xuân Hãn về tính khoa học và dân tộc, nữ sinh Đồng Khánh đã kế thừa tinh thần bình đẳng với nam giới trong học tập. Nữ sinh theo học chương trình thống nhất về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cho nam và nữ giới, nhờ đó nữ sinh kế thừa tri thức khoa học đã có từ chương trình Pháp –Việt. Ngôn ngữ, văn học và văn hóa Pháp tiếp tục được nữ sinh yêu thích. Nếu môn nữ công gia chánh rèn luyện cho nữ sinh những kiến thức và kỹ năng chăm lo gia đình thì các môn thể dục, nhạc, họa giúp cho nữ sinh mạnh dạn, năng động để trở thành người phụ nữ của thời đại mới. 

_______________________________

Sau 1945, tất cả các trường trung học trên toàn quốc đều giảng dạy theo chương trình Hoàng Xuân Hãn. Chương trình này theo mô hình giáo dục Pháp - Việt nhưng có một số sửa đổi cho phù hợp với nền giáo dục của một quốc gia độc lập. Riêng về lĩnh vực khoa học thì chương trình này phỏng theo chương trình Pháp -  Việt.

Giáo dục nữ sinh ở trường Đồng Khánh đã kế thừa những gì của  giáo dục Pháp-Việt khi áp dụng chương trình Hoàng Xuân Hãn?

1. Giáo dục nữ sinh kế thừa tinh thần bình đẳng với nam giới trong học tập

Nói riêng về xứ Trung Kỳ, đầu thế kỷ 20, trước khi trường Đồng Khánh ra đời, trình độ nữ  chỉ dừng lại ở chỗ biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ nhưng cũng rất ít người, chỉ tập trung ở tầng lớp con nhà quan lại và công chức.

 Năm 1945, khi hệ thống giáo dục Pháp-Việt bị bãi bỏ, trường Đồng Khánh vẫn mở cửa đón nhận nữ sinh học chương trình Việt, điều này chứng tỏ chương trình Hoàng Xuân Hãn đã kế thừa tinh thần bình đẳng của nền giáo dục Pháp – Việt: quyền học tập của nữ giới được tôn trọng và khuyến khích. Đây là một ưu điểm, một sự tiến bộ trong việc giáo dục nữ giới, đi đến việc xóa dần quan niệm cũ vẫn tồn tại trong quần chúng phụ huynh thời bấy giờ: con gái không cần phải học nhiều.

2. Giáo dục nữ kế thừa tri thức khoa học trong chương trình Pháp – Việt

Theo chương trình Hoàng Xuân Hãn, tiếng Việt được dùng làm chuyển ngữ, tiếng Pháp trở thành một ngoại ngữ. Nội dung các môn học về xã hội nhân văn đều khác trước: chú trọng đề cao tinh thần dân tộc và các giá trị truyền thống của dân tộc; học Sử, Địa của Việt Nam và các nước trên thế giới, riêng các môn khoa học tự nhiên Toán, Lý, Hóa, Sinh vật thì mô phỏng nội dung của giáo dục Pháp – Việt. Khi còn đi học, chúng tôi vẫn làm thêm bài  tập Toán trong các sách Toán do người Pháp viết đang lưu hành trước 1945 như sách Toán của Brachet & Dumarqué, “Par une réunion de professeurs”, bộ sách Toán của Caronnet, về vật lý thì tham khảo Cours de Physique của Lamirand. Có lẽ Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cũng đoán biết những khó khăn buổi đầu, khi chương trình chuyển đổi trong thời gian quá ngắn, không kịp soạn sách giáo khoa mới cho nên ông đã cấp tốc soạn quyển “Danh từ khoa học”, “Danh từ Toán học” giúp cho giáo sư và học sinh tham khảo sách khoa học bằng tiếng Pháp trong việc dạy và học bằng tiếng Việt. Quyển “Danh từ khoa học” dùng trên toàn quốc còn giúp thống nhất từ ngữ tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học.

Riêng về Lý Hóa Sinh đã gặp trở ngại rất lớn. Tình trạng dạy chay, học chay kéo dài cho đến thập niên 60 nhà trường mới có thể tổ chức một ít giờ thực hành ưu tiên cho ban A (chuyên về Lý Hóa Sinh). Môn Sinh vật thì khá hơn nhờ vào một số mô hình về động vật và nhiều tranh vẽ về các loài thực vật hoặc có thể thực hành vài tiểu phẩu đơn giản. Những năm cuối thập niên 50, sách tiếng Việt về Toán Lý Hóa Sinh xuất bản ngày càng nhiều.

Trong thực tế, nữ sinh đã thực hiện rất tốt quyền được học tập của mình. Hầu như tất cả nữ sinh đều chăm học, không ham chơi, lười biếng. Nhìn chung qua các kỳ thi tốt nghiệp ban Thành Chung và ban Tú Tài, tỷ lệ trúng tuyển của trường Đồng Khánh không chênh lệch so với tỷ lệ trúng tuyển trong toàn tỉnh và toàn quốc, trong đó không thiếu những em đỗ cao, hạng Bình thứ, hạng Bình. Kỳ thi Trung học toàn quốc  năm 1967, Đồng Khánh có một giải Toán, hai giải Pháp văn.

3. Sau năm 1945, cách tổ chức lớp học và cách giảng dạy không có gì khác trước

Về cách dạy và học: Cách tổ chức lớp học và cách giảng dạy của thầy cô sau 1945 không có gì khác trước. Khác chăng là hoàn cảnh xã hội đã thay đổi, chiến tranh, nhà trường có khi bất an, thiếu giáo viên, điều kiện học tập bị hạn chế nhất là trong vòng 10 năm đầu (45 - 55). Những điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng. Điều đáng lưu ý là trong điều kiện khó khăn như thế, cả thầy và trò đã tỏ rõ nỗ lực rất lớn. Lương tâm nghề nghiệp, trách nhiệm và tinh thần hiếu học là những điểm sáng của thầy và trò thời kỳ này.

Các thầy cô không bị ràng buộc bởi những chỉ tiêu lên lớp và thi tốt nghiệp, không buộc phải theo một bộ sách duy nhất được xem là pháp lệnh, đương nhiên thầy cô có trách nhiệm hoàn thành chương trình vào cuối năm học nhưng mỗi bài dạy không phải theo đúng một số tiết đã ấn định sẵn, vì vậy không khí trong giờ học không căng thẳng, trái lại giữa thầy, bài giảng và trò có sự cởi mở thông thoáng, từ đó thầy có thể dừng lại giây lát bắt mạch được chỗ trò khó hiểu để giải quyết ngay điểm ách tắc nơi trò mà không sợ bị cháy giáo án (các môn tự nhiên như Toán nếu một mắc xích bị ách tắc trò sẽ không thể tiếp thu được cả chuỗi kiến thức), cách dẫn dắt có sự phối hợp giữa thầy và trò sẽ giảm được những ách tắc tích tụ dần dần làm cho trò mất căn bản. Với các môn xã hội Văn, Sử và cả ngoại ngữ, không khí thông thoáng của giờ học còn tạo điều kiện cho sự trao đổi, có khi là sự “tâm giao” giữa thầy và trò qua bài giảng, biến kiến thức khách quan thành “vốn riêng” của trò, trò sẽ nhớ đời chứ không phải học xong là trả bài giảng cho thầy. Rất nhiều thầy cô được các thế hệ nữ sinh mến mộ vì lẽ đó.

Dù cho sách báo tư liệu khan hiếm, các thầy cô vẫn khuyến khích chúng tôi tìm đọc thêm để mở rộng kiến thức, không nên đóng khung sự hiểu biết nội trong bài học trên lớp. Sự thông thoáng cởi mở còn thấy rõ khi giải một bài toán khác cách của thầy hoặc làm bài văn không theo lời giảng của thầy là việc bình thường, nếu đúng vẫn được điểm tốt.

Cách dạy trên đây giúp chúng tôi tự tìm tòi để học thêm, đọc thêm, chúng tôi có thói quen tự học, không suy nghĩ một chiều, không học vẹt. Thiết nghĩ phong cách giảng dạy cởi mở thông thoáng của thầy cô thời bấy giờ cũng chịu ảnh hưởng sâu xa từ tinh thần tự do ít nhiều tiềm ẩn trong nền giáo dục Pháp - Việt.

Riêng về môn Pháp văn, sau 1945 đã trở thành một ngoại ngữ. Học sinh học Pháp văn là có phương tiện để tiếp thu những tri thức khoa học kỹ thuật tiên tiến của người Pháp mà nước ta  đang rất cần, mặt khác học Pháp văn để tiếp thu những tinh hoa trong nền văn học Pháp, những giá trị nhân văn trong văn hóa Pháp theo chủ trương một nền giáo dục Việt Nam khai phóng. Tuy vậy, thời gian đầu thì phải chắt lọc những gì giáo dục Pháp – Việt còn lại để sử dụng.

Về giáo viên: Mãi đến đầu thập niên 60, trường Đại học Sư phạm Huế mới đào tạo một số giáo viên Pháp văn cho ban Tú tài trong khi ban Thành chung các trường phải tự lo liệu! Trường Đồng Khánh đã “góp nhặt” một số giáo viên Tiểu học được đào tạo trong hệ thống giáo dục Pháp-Việt, vốn tiếng Pháp của họ rất vững vàng để phụ trách môn Pháp văn ban Thành Chung. Về sách giáo khoa: Chúng tôi được mượn sách văn phạm và sách tập đọc bằng tiếng Pháp của trường (sách đã dùng trước 1945) để học. Dĩ nhiên sách thời đó viết theo phương pháp cũ đưa ra rất nhiều quy tắc về ngữ pháp, chúng tôi học thuộc và tự tìm ví dụ để minh nhọa. Trên thị trường lưu hành hai quyển sách: “Nắm vững căn bản Pháp văn” của Nguyễn Văn Kháng và “Pour écrire correctement le Français” của Nguyễn Bá Mậu.

Đến cuối thập niên 1950, sách giáo khoa mới được Bộ Giáo dục quy định lại nhằm thống nhất nội dung và phương pháp học mới hơn trước (méthode directe). Bộ sách “Cours de langue et de civilisation françaises” (của tác giả Mauger) được dùng làm sách giáo khoa cho các trường trung học toàn miền Nam.

4. Giáo dục nữ ở trường Đồng Khánh đã kế thừa cách tổ chức dạy và học môn nữ công gia chánh

Đưa môn nữ công gia chánh vào nhà trường, tổ chức dạy và học có hệ thống và bài bản là một ưu điểm lớn mà trường Đồng Khánh đã kế thừa từ giáo dục Pháp - Việt. Trường Đồng Khánh đã may mắn kế thừa cả cơ sở vật chất và nhân lực: trường có sẵn nhà bếp và dụng cụ nấu nướng, cô Hoàng Thị Kim Cúc là giáo viên chuyên dạy nấu ăn từ trước 1945. Sau này có thêm bà Bửu Tiếp dạy may thêu thay cho các bà giáo người Pháp thời kỳ trước đó.

Trường Đồng Khánh cũng đặc biệt quan tâm đến môn học này mặc dù đây là môn phụ, hệ số 1 và không thi tốt nghiệp nhưng lại rất cần thiết để rèn luyện cho nữ sinh một số kỹ năng thực hành và rất nhiều thói quen tốt cùng nhiều đức tính của người phụ nữ mà môn học này mang lại. Mỗi năm nhà trường đã dành cho môn nữ công gia chánh phần thưởng lớn và có giá trị.

Sau năm 1945, việc học nữ công gia chánh không còn thuận lợi như trước, một trong những lý do chính là số giờ học hàng tuần là 3 giờ đã dần dần bị rút lại còn 2 giờ, về sau chỉ còn 1 giờ do số giờ học của một vài môn khác tăng lên (từ chỉ thị của Bộ Giáo dục). Tuy vậy, nhà trường đã tìm mọi cách để việc dạy và học đảm bảo chất lượng và theo đúng nội dung chương trình bằng cách:

- Thay vì nấu món mặn dùng cho bữa cơm gia đình phải kéo dài 3 tiếng như trước 1945 thì nhà trường dạy làm bánh kẹo, những món thông dụng để mời khách hoặc dùng trong ngày Tết, họp mặt, thực hành đủ trong 1 giờ. Học sinh đã thực hành bánh nhúng, bánh hoa hường, bánh bông lan, kẹo đậu phụng bọc socola, kẹo táo, kẹo mè…

-  Về may thêu: ngoài việc thực hành cách vá, mạng đan len, học sinh được dạy may áo và tã của trẻ sơ sinh, may và thêu bao gối, thêu bộ khăn trà, khăn bàn ăn, thêu tranh theo trường như tranh chùa một cột, tranh thiếu nữ đàn tỳ bà… Học sinh không thêu may từng mẫu nhỏ  đính vào “Album de couture” như trước 1945, trái lại may theo kích cỡ thật để dùng trong thực tế. Các sản phẩm may thêu không thể làm xong trong 1 giờ trên lớp nhưng học sinh có thể đem về nhà làm tiếp.

Học sinh rất thích học môn nữ công gia chánh.

Năm 1962 nhân dịp lễ Hai Bà Trưng, trường Đồng Khánh đã tổ chức thi nấu ăn cho các lớp và triển lãm nữ công gia chánh trưng bày sản phẩm của nữ sinh làm ra, mở cửa suốt tuần lễ cho công chúng và học sinh trường bạn vào xem. Sản phẩm được tiêu thụ nhanh chóng. Số tiền thu được sau khi trang trải chi phí được sung vào quỹ của ban nữ công. Cuộc triển lãm 1962 đã để lại một dấu ấn rất đẹp trong việc học nữ công gia chánh.

5.  Nữ sinh còn được học thể dục và các môn nhạc, vẽ, kế thừa đường lối giáo dục toàn diện của nhà trường Pháp - Việt

Về môn nhạc thì nội dung mới, khác trước: học sinh toàn hát bài hát Việt được lựa chọn những bài có nội dung giáo dục và đề cao truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam như lòng thương yêu, giúp đỡ những người nghèo khổ, bất hạnh, lòng yêu nước và tinh thần bất khuất của phụ nữ, ca ngợi những vị anh hùng dân tộc, nhất là Hai Bà Trưng.

Việc học thể dục chỉ có thể được thực hiện đầy đủ và đều khắp từ thập niên 60 trở về sau khi có huấn luyện viên chuyên nghiệp được biệt phái hẳn về trường. Tập thể dục thì em nào cũng tham gia, riêng các em thể lực yếu rất sợ các môn điền kinh.

 Đoàn nữ sinh Đồng Khánh luôn có mặt trong các Đại hội Thể dục Thể thao học sinh toàn tỉnh, học sinh như tham gia đoàn diễn hành, biểu diễn thể dục đồng chuyển, một số các em có năng khiếu được nhà trường cử đi tranh giải điền kinh, bóng bàn, vũ cầu dành cho nữ và đã gặt hái được một số thành tích, giải thưởng.

Ngoài ra, trường Đồng Khánh còn tổ chức nhiều cuộc du ngoạn, cắm trại cho nữ sinh.

6.  Đồng Khánh còn là môi trường mẫu mực về văn hóa công sở, về nề nếp tốt mà giáo dục Pháp - Việt trước đó đã đặt nền móng

Các thời kỳ kế tiếp tôn trọng, gìn giữ và tìm cách làm cho mỗi ngày một tốt thêm. Đây cũng là những yếu tố có tác động âm thầm nhưng sâu xa đến việc rèn luyện nhân cách đạo đức cho nữ sinh.

Nữ sinh đến trường là đi vào một nơi tôn nghiêm và thanh lịch khiến các em không khỏi tự hào và có thể một lần nào đó các em tự nhủ mình cũng phải cố gắng sao cho ngang tầm, xứng đáng là con em của ngôi trường có nhiều uy tín này.

Từ cách đi đứng lịch sự, nói cười nhỏ nhẹ, ôn tồn, cách chào hỏi, tiếp xúc cởi mở của các bà nhân viên và đội ngũ các thầy cô giáo, y phục trang nhã, kín đáo, phong cách mẫu mực, lối làm việc nghiêm túc, khoa học, tận tâm, sẵn sàng chỉ bảo những điều hay, răn đe những lỗi lầm… là những bài học bất thành văn về nhân cách và lối sống, đã dần dần  thâm nhập vào học sinh, góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp nơi các em.

Tôi nhận thấy nhiều thế hệ nữ sinh đã đi xa trường lâu năm nhưng mỗi khi nhắc đến Đồng Khánh thì người nào cũng cảm thấy ngôi trường vẫn hiện diện trong lòng mình và ngược lại. Điều này lý giải tại sao các thế hệ cựu nữ sinh luôn thương yêu gắn bó với ngôi trường xưa. Tôi nghĩ đây là một truyền thống tốt đẹp và đáng quý.

Phần kết

Trường Đồng Khánh đã kế thừa gíáo dục  Pháp – Việt đồng thời phát triển theo đường lối giáo dục dân tộc được 30 năm thì giải thể (1945 – 1975). Thời kỳ ấy xã hội có nhiều biến động lớn, giáo dục không thể không bị ảnh hưởng. Tuy vậy, nỗ lực của toàn ngành, tâm huyết của thầy cô, tinh thần hiếu học của trò đã tạo sức sống mãnh liệt cho giáo dục. Do đó, giáo dục nữ ở trường Đồng Khánh đã góp phần đào tạo nhân lực nữ cho miền Trung và đặt nền móng cho sự hình thành một đội ngũ nữ trí thức, họ đã thực sự bình đẳng với nam giới trong những lãnh vực nghề nghiệp khác nhau của xã hội.