Thu, 05/05/2016 - 10:06 - 211 Views

Buổi trao đổi học thuật nhằm thiệu sách “Sự kiến tạo xã hội về thực tại” của Peter Berger và Thomas Luckmann vừa được PGS.TS Trần Hữu Quang và cộng sự dịch sang tiếng Việt, do Phương Nam xuất bản. Với mong muốn đóng góp một bước quan trọng trong tư duy xã hội học nói riêng và tư duy khoa học xã hội nói chung ở Việt Nam, buổi giới thiệu sách này đã được thực hiện tại Trường Đại học Hoa Sen TP.HCM vào ngày 08/04/2016, và đã thu hút nhiều giảng viên, nhà nghiên cứu và sinh viên từ nhiều khoa, trường đại học và cơ quan khác nhau quan tâm và tham dự.

Quyển sách “Sự kiến tạo xã hội về thực tại” của Peter Berger và Thomas Luckmann được xuất bản năm 1966 tại Mỹ và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

Mở đầu buổi nói chuyện, ông Quang chủ yếu tập trung giới thiệu phần “Sự kiến tạo thực tại về xã hội và sự biện chứng của xã hội” của quyển sách. Nói một cách tổng quát, hai tác giả Peter Berger và Thomas Luckmann đặt vấn đề “thực tại” xã hội mang tính khách quan hay chủ quan? Để trả lời cho câu hỏi này, ông Quang đã nêu lên tư tưởng của hai nhà xã hội học Emile Durkheim và Max Weber.  Durkheim cho rằng quy tắc đầu tiên và nền tảng nhất là xem xét những sự kiện xã hội như những đồ vật (things), tức là xem xét những sự kiện xã hội với tính khách quan như những gì chúng ta có thể quan sát. Nhưng Weber lại có ý nghĩ khác, Weber cho rằng đối với xã hội học, hoặc sử học theo nghĩa hiện nay, thì quan trọng nhất không phải là bản thân các sự kiện xã hội mà là ý nghĩa của các hành động bên trong sự kiện đó, ý nghĩa ở đây là do con người- là những chủ thể hành động- đã gán vào các hành động. Peter Berger và Thomas Luckmann lại hoàn toàn đồng ý cả hai quan điểm của Durkheim và Weber. Điều này ngược với tư tưởng các nhà xã hội học thường nghĩ rằng Emile Durkheim và Max Weber đối nghịch nhau và loại trừ nhau, nhưng thực ra không phải, hai quan điểm này hoàn toàn có thể bổ sung cho nhau. Vì theo tính chất lưỡng diện thực tại, tức là thực tại xã hội mang tính hai mặt: (1) các sự kiện khách quan và (2) ý nghĩa chủ quan, và nhìn chung thì các sự kiện xã hội đều như thế. Như vậy câu hỏi trung tâm của lý thuyết xã hội học theo hai tác giả là làm thế nào ý nghĩa chủ quan có thể trở thành những sự kiện khách quan hay nói cách khác là làm thế nào hoạt động của con người (tiếng Đức: “handeln”, tiếng Anh: “act”/”handle”) lại sản xuất ra một thế giới đồ vật (things)? Mô hình của xã hội học nhận thức có thể trả lời câu hỏi này.

Nội dung quyển sách còn đặt ra một câu hỏi lớn nữa đó là mối quan hệ giữa định chế và tư tưởng. Tư tưởng ở đây là lãnh vực tinh thần của con người, vậy định chế quyết định hay là tư tưởng con người quyết định, cái nào sinh ra cái nào? Tóm lại quyển sách này giải quyết hai vấn đề cơ bản: (1)  mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân và (2) mối quan hệ giữa định chế và tư tưởng.

Đầu tiên tác giả đặt ra câu hỏi: làm thế nào mà trật tự xã hội có thể nảy sinh?

Ví dụ: Ta hãy hình dung sự hình thành một tổ chức mới, phong trào mới, định chế mới thì câu hỏi này rất có ý nghĩa. Chẳng hạn như việc xây dựng một trường đại học mới, làm thế nào mà từ số 0 nó sinh ra một tập thể có thầy giáo, cô giáo và vài ba năm sau thì trở thành một ngôi trường có kỷ luật, có tiếng chuông đến giờ vào lớp, mở cửa cho sinh viên vào, v.v... tất cả những bộ máy định chế đó từ đâu sinh ra?

Câu trả lời tổng quát là: “Trật tự xã hội là một sản phẩm của con người, hay nói chính xác hơn, là một tiến trình sản xuất đang tiếp diễn của con người. Nó được con người sản xuất ra trong tiến trình ngoại thể hóa đang tiếp diễn của mình”. Nói đến tiến trình hình thành của trật tự xã hội chính là nói đến tiến trình định chế hóa. Và định chế là một sản phẩm tối hậu của quá trình ngoại thể hóa (externalization) và quá trình khách thể hóa (objectivation) của con người. Như vậy Peter Berger và Thomas Luckmann cho rằng quá trình định chế hóa (institutionalization) diễn ra theo trình tự như sau: tập quán hóa, điển hình hóa, rồi cuối cùng ra đời một trật tự định chế.

Như vậy khái niệm định chế là điểm rất độc đáo của quyển sách, hai tác giả đã nhấn mạnh tới quá trình này. Bắt đầu từ tập quá hóa (habitualization): “Bất cứ hành động nào được lặp đi lặp lại thường xuyên cũng sẽ đến lúc được đúc thành một khuôn mẫu (pattern), khuôn mẫu này sau đó có thể được sao chép lại mà không tốn nhiều công sức”.

Ví dụ: Một người đàn ông bị tàu đắm và lạc trên hoang đảo. Ông tìm cách trở về nhà, ông đóng chiếc xuồng bằng những chiếc que diêm, làm những thao tác ráp để ra chiếc xuồng, những ngày đầu tiên ông ta phải mày mò, lúng túng nhưng những ngày sau ông đã biến một số thao tác thành tập quán và ông làm một cách dễ dàng.

Như vậy tác dụng của tập quán giúp cho chúng ta được rảnh rang đầu óc để làm việc khác, bởi vì nếu mỗi ngày mà phải bắt đầu lại từ đầu thì sẽ rất mệt mỏi và đầu óc không thể suy nghĩ ra những việc khác. Cuộc sống hằng ngày của mỗi người chúng ta luôn có tập quán, từ hành vi chúng ta dắt xe ra hằng ngày, đi lối nào, để cái điện thoại ở đâu... thậm chí những hành vi đó được làm một cách rất máy móc mà đôi khi chúng ta không nhận ra mình đã làm rồi. Như vậy cuộc sống của chúng ta là một chuỗi những hành vi tập quán. Đó là xuất phát điểm để chúng ta hiểu những lý luận tiếp theo.

Sau tập quán hóa là điển hình hóa (typification): “Sự định chế hóa diễn ra mỗi khi có một sự điển hình hóa hỗ tương đối với những hành động đã được tập quán hóa của một số loại điển hình tác nhân nào đó

Ví dụ: Truyện Robinson Crusoe bị lạc trên hoang đảo. Robinson gặp gỡ một người địa phương và Robinson đặt tên người này là Thứ Sáu (Vendredi). Giữa hai người này bắt đầu xảy ra mối quan hệ tương giao, hai người không hiểu nhau nhưng họ quan sát những hành vi của nhau: quan sát nấu ăn như thế nào, nhóm lửa ra sao, đóng xuồng bằng que diêm như thế nào. Ông Thứ Sáu phát hiện ra rằng ông Robinson cứ lặp đi lặp lại những hành động từ ngày này qua ngày khác. Như vậy bắt đầu xuất hiện từng loại người như người nấu cơm, người đóng xuồng. Và tác giả cho rằng đến một ngày nào đó sẽ hình thành vai trò (role), sau này nếu ông Robinson bệnh, ông thứ Sáu sẽ nhận vai ông Robinson và làm những cái công việc mà ông Robinson đã làm, đó là sự chuyển vai trò cho nhau.

Tóm lại, chúng ta luôn luôn tương giao với người khác bằng cách nhìn người ấy trong một “típ” điển hình nào đó. Ví dụ: Ông A và bà B trên hoang đảo bắt đầu sinh con đẻ cái, những tập quán và những điển hình lúc này đã được kết tinh và sẽ được truyền lại cho thế hệ sau, hình thành nên tiểu xã hội. Như vậy, ông A và bà B sẽ truyền kinh nghiệm cho con về những tập quán về điển hình này. Thế thì làm thế nào để dạy những đứa con, vì những đứa con không được tập tành ngay từ đầu, tại sao nấu ăn phải nấu kiểu này, tại sao phải làm nhà gần suối... có rất nhiều điều mà thế hệ sau không hiểu, cho nên những thế hệ trước truyền lại những vai trò (những định chế) buộc phải trải qua một quá trình chính đáng hóa (legitimation), tức là phải dùng một số câu chuyện, huyền thoại để giải thích cho người sau hiểu ý nghĩa của các tập quán, vai trò nằm trong định chế mà người ta muốn truyền lại cho thế hệ sau.

Theo Peter Berger và Thomas Luckmann do trật tự định chế (chẳng hạn do A và B thiết lập trên hoang đảo) nay đã thuộc về lịch sử, nên nó cần được truyền lại cho thế hệ sau bằng cách “phải có những lời giải thích và biện minh cho những yếu tố then chốt của truyền thống định chế”

Ví dụ: Khi còn nhỏ, ta có những thắc mắc, thì ông bà ta giải thích qua những câu chuyện huyền thoại để chính đáng hóa, để biện minh, để giải thích cho thế hệ sau.

Những cấp độ chính đáng hóa:

  . Cấp độ tiền lý thuyết (chẳng hạn giải thích cho đứa trẻ rằng “người ta ai cũng làm thế”)

  . Cấp độ 2, những mệnh đề lý thuyết ở dạng thô sơ (như ca dao, tục ngữ, châm ngôn)

  . Cấp độ 3, hình thành một vũ trụ biểu tượng (symbolic universe). Ví dụ như các huyền thoại, và cao nhất là xây dựng một lý thuyết (với một khối kiến thức chuyên sâu). Phải có một guồng máy tư tưởng (conceptual machinery), bao gồm các nhóm chuyên gia đảm trách việc xây dựng lý thuyết, việc truyền đạt và việc trị liệu.

Ông Quang cũng nói thêm hầu như chúng ta sống, giao tiếp với người khác thông qua những điển hình một cách không ý thức, như khi thấy một người mặc quần áo lôi thôi, nhếch nhác thì trong đầu chúng ta hình thành một điển hình về một loại người nào đó mà chúng ta tưởng tượng. Một ví dụ khác, khi chúng ta gặp một người lạnh lùng ít nói, lãnh đạm, chúng ta sẽ nghĩ ngay đến một điển hình là “người Anh thường phớt tỉnh Ăng-lê”. Những điển hình không phải do chúng ta chế ra mà do chúng ta học được từ khi chúng ta lớn lên, học ở nhà trường và học ở xã hội.

Về định chế, ông Quang nhấn mạnh tiến trình điển hình hóa hình thành các vai trò, cho nên khi nói đến khái niệm định chế hãy gắn đến khái niệm vai trò, định chế là bao gồm các vai trò, và các giá trị chuẩn mực của thế giới vũ trụ biểu tượng và những khuôn mẫu ứng xử. Vai trò “Trước hết, việc đảm nhiệm vai trò thể hiện chính nó”. Ví dụ, khi tham gia vào việc xét xử chính là ta đã thể hiện vai trò của quan tòa. Cá nhân vị quan tòa không hành động ‘theo ý mình’, mà với tư cách của một vị quan tòa. Kế đến, vai trò thể hiện cả một mạng lưới bao gồm những cách xử sự nhất định trong lòng định chế. Vai trò của vị quan tòa nằm trong mối liên hệ với các vai trò khác, và toàn bộ các vai trò ấy cấu tạo nên định chế luật pháp. Vị quan tòa hành động như người đại diện cho định chế này”

Định chế chỉ tồn tại thông qua các vai trò, có định chế là có vai trò, không có vai trò thì sẽ không có định chế.

Ví dụ: Không có con thì sẽ không gọi là mẹ, không có trò thì sẽ không gọi là thầy, hai người không là vợ chồng, không kết hôn thì sẽ không có định chế gia đình được.

Cuối cùng hai tác giả sử dụng hình ảnh vở kịch để nói về định chế (institution) là “kịch bản chưa được viết ra của một vở kịch”, trong đó các hành động và xử sự của các vai trò đều “đã được lập trình” sẵn. “Sự hiện thực hóa vở kịch phụ thuộc vào việc các diễn viên/tác nhân [actors] còn đang sống diễn đi diễn lại những vai [roles] đã được ấn định trong vở kịch. Các diễn viên/tác nhân là hiện thân của các vai và hiện thực hóa vở kịch bằng cách trình diễn nó trên sân khấu hữu quan. Cả vở kịch lẫn định chế đều không tồn tại thực sự bên ngoài sự trình diễn trở đi trở lại này

Ví dụ: Trường tiểu học là một định chế giáo dục. Định chế giáo dục này có những vai trò như: Thầy giáo, cô giáo và học trò. Những chuẩn mực của thầy giáo, cô giáo và học trò ở Việt Nam đã được xác định từ lâu đời, trò đối với thầy phải như thế nào, và ngược lại. Ví dụ: Hiện nay, ngôi trường chưa được thành lập, chúng ta đang bắt đầu mở trường. Tuy nhiên, chúng ta đã tham gia xây dựng một định chế dù chưa có kịch bản. Nếu muốn mở trường, ta phải kiếm người góp vốn, hiệu trưởng và hiệu phó (xây dựng định chế). Rồi chính những người đó sẽ viết ra kịch bản và sau đó thủ vai đóng luôn. Kịch bản như thế nào thì sẽ do chính chúng ta thực hiện. Dịch giả nhấn mạnh: “Định chế không phải là một kịch bản có sẵn”, chúng ta không sống theo một kịch bản có sẵn và nếu sống trong kịch bản có sẵn như vậy chúng ta sẽ giống như robot.

Một ví dụ khác, đó là sự kiến tạo thực tại xã hội trong đời sống hôn nhân tương tự cũng vậy.

Nói khác đi, theo Peter Berger và Thomas Luckmann, nếu không có diễn viên, nếu vở kịch không được trình diễn, thì sẽ không có vở kịch, không có định chế. “Chính các vai trò làm cho các định chế có thể tồn tại và luôn luôn tồn tại như một sự hiện diện có thực trong kinh nghiệm của các cá nhân đang sống”. Tóm lại, tiến trình kiến tạo thực tại xã hội đi từ khách thể hóa đến định chế hóa, sau đó là chính đáng hóa.

Nhìn chung, quyển sách đã khai mở cho chúng ta những ý tưởng mới, theo hai tác giả này thì “quả” có trước, rồi “nhân” mới có sau. Ngày xưa, các nhà xã hội học chỉ nghiên cứu xã hội hoặc chỉ nghiên cứu cá nhân, ngày nay Berger và Luckmann làm cầu nối giữa hai trường phái nghiên cứu đó, hai ông chú ý mối quan hệ giữa xã hội và cá nhân. Bên cạnh khái niệm về định chế, hai ông cũng chú ý đến vũ trụ biểu tượng, vì xã hội học nhận thức nghiên cứu những cái mà hàng ngày con người hiểu, thích, ghét, tin ra sao.

 

Đôi nét về diễn giả

PGS. TS. Trần Hữu Quang hiện nay đang công tác tại Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Trước đây ông giảng dạy một số môn xã hội học tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), trường Đại học Cần Thơ, Đại học Mở-Bán công TP.HCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Ông cũng làm báo: Tập san Khoa học & Phát triển (1986-1989), và Thời báo Kinh tế Sài Gòn (1992-2003).
 

Nguyễn Thành Phúc  tường thuật