Mon, 03/14/2016 - 09:44 - 177 Views

Một buổi trao đổi học thuật với chủ đề: "Tính phản tư trong nghiên cứu khoa học xã hội và xã hội học" vừa được Ths. Phạm Như Hồ thuộc Khoa Xã hội học - Công tác xã hội - Đông Nam Á, Trường Đại học Mở TP.HCM, trình bày vào ngày 26/02/2016 tại Trường Đại học Mở TP.HCM. Buổi trao đổi học thuật này đã thu hút được nhiều giảng viên, sinh viên và nhà nghiên cứu từ nhiều khoa, trường đại học và cơ quan khác nhau đến dự.

Mở đầu buổi nói chuyện, ông Hồ cho biết bản thân ông không phải là một nhà xã hội học đích thực, vì nhà xã hội học đích thực thường vừa nắm vững về lý thuyết lại vừa có nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm. Ông muốn mọi người coi ông như một giảng viên dạy về xã hội học.

Theo ông Hồ, tính phản tư (reflexivity) đã có ngay từ khi môn xã hội học được thành lập với Emile Durkheim ở Pháp và Max Weber ở Đức. Ta thường thấy văn học là một diễn ngôn, nghệ thuật cũng là một diễn ngôn, v.v… Mỗi diễn ngôn đều có quy tắc riêng. Xã hội học là một diễn ngôn được một bộ phận xã hội sản xuất ra để nói về chính xã hội đó. Xã hội học có hai xu hướng diễn ngôn để phân tích xã hội. Xu hướng thứ nhất thuộc trường phái tổng thể luận (holism) của Durkheim cho rằng xã hội có thể tác động và uốn nắn con người, nên cấp độ có ý nghĩa để nghiên cứu xã hội học là cấp độ xã hội. Xu hướng thứ nhì thuộc trường phái cá nhân luận (individualism) của Weber cho rằng xã hội là sự kết hợp những con người, những hành động xã hội với nhau, nên cấp độ nghiên cứu có ý nghĩa là cấp độ cá nhân. Tính phản tư cho rằng kiến thức xã hội học sẽ giúp con người hiểu và tự định vị cá nhân mình trong hệ thống những mối tương tác với những người khác trong cộng đồng. Khi có kiến thức xã hội học, con người sẽ giải thích đúng hơn các hành xử và thực tiễn của mình. Tuy nhiên, trong suốt một thời gian dài, xã hội học chỉ ở trong khuôn khổ những người hoạt động chuyên môn thôi, chứ không lan tỏa ra toàn xã hội được.

Bước sang thế kỷ 20, con người sống trong một xã hội mà những kiến thức về đời sống xã hội ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn. Anthony Giddens (Anh) và Pierre Bourdieu (Pháp) là những người đã đưa khái niệm “tính phản tư” vào lý thuyết xã hội học của họ. Lý thuyết về tính hiện đại đã dựa rất nhiều trên tính phản tư. Người đầu tiên nghiên cứu về tính hiện đại là Max Weber, vào thời kỳ cách mạng công nghiệp hóa vào thế kỷ 18 và 19 ở Châu Âu. Sau đó, vào thế kỷ 20, Giddens cho rằng ta đang ở vào thời kỳ hiện đại hóa lần thứ hai. Trước đây, con người thường quy chiếu những định chế về xã hội, giai cấp, gia đình, tôn giáo, v.v… để định vị mình. Nay khi giá trị các định chế này bị giảm sút, con người không còn dựa vào những định chế xã hội nữa, mà các định chế liên hệ trực tiếp đến chủ thể. Giá trị những định chế cũ ngày càng giảm đi, con người phải có những điểm quy chiếu khác để tự định vị mình. Chẳng hạn, ngày nay yếu tố “gia đình” và “thành phần xã hội” không còn quan trọng như trước. Các phát hiện trong “Báo cáo Kinsey” (The Kinsey Reports của Alfred C. Kinsey’s và cộng sự) vào thập niên 1950 ở Mỹ nghiên cứu cách hành xử của con người về tình dục đã đánh đổ những định kiến đã có từ trước. Ví dụ như Kinsey cho thấy thủ dâm của người vị thành niên là điều tự nhiên, thay vì trước đây điều này bị cho là tội lỗi; đồng tính cũng không là một bệnh như người ta vẫn tưởng.

Một ví dụ nữa: Ngày xưa người ta chỉ chia ra thành hai giới tính: nam và nữ. Các định chế như: nhà thờ, gia đình hoặc luật pháp ấn định giới tính cho một cá nhân. Ngày nay có nhiều loại giới tính khác nhau: LGBT, do đó con người tự phản tỉnh, tự xác định lại mình thuộc giới tính nào.

Nhìn chung những kiến thức do nhà xã hội học sản xuất ra đã tác động và làm thay đổi con người (đối tượng nghiên cứu).

Theo Pierre Bourdieu, tính phản tư được xây dựng theo 3 giai đoạn. Ở giai đoạn 1, ông cảm nhận sâu sắc về sự cần thiết của tính phản tư trong nghiên cứu nhân học và xã hội học. Trong khoảng thời gian của cuộc chiến tranh chống Pháp của Algeria để dành độc lập (1954 – 1962), Bourdieu đi nghĩa vụ quân sự ở Algeria rồi sau đó ông dạy ở trường Đại học Xã hội - nhân văn ở thủ đô Algiers. Lúc này ông viết tác phẩm “Sociologie de l' Algėrie” (tiếng Anh là: The Sociology of Algeria, tạm dịch Xã hội học Algeria), ông nghiên cứu người nông dân Algeria theo phương pháp nhân học, ông đi thực địa và phỏng vấn họ. Ông thấy có một mối quan hệ lệch lạc và nghi kỵ giữa người phỏng vấn là người Pháp và người trả lời phỏng vấn là người nông dân Algeria. Từ đó, Bourdieu thấy cần sử dụng tính phản tư để kiểm soát đối tượng nghiên cứu và nhà nghiên cứu.

Vào giai đoạn 2, Bourdieu đào sâu thêm bằng cách đề xuất những khái niệm giúp nhà xã hội học sử dụng tư duy để tự kiểm soát mình trong mối quan hệ nghiên cứu, rồi ông nâng trình độ lên thành nhận thức luận (epistemology) và phương pháp luận (methodology), chẳng hạn như các khái niệm: tập tính (habitus), trường (field), vốn (capital)… Ví dụ: khi nghiên cứu một người ta đã quen từ trước, ta nghĩ là họ có cùng quan điểm với mình nên ta sẽ không tạo cơ hội cho họ tự nói ra ý kiến của họ.

Đến giai đoạn 3, Bourdieu áp dụng lý luận vào công trình nghiên cứu thực nghiệm những con người hàn lâm và những người cùng khổ. Vì các nhà xã hội học nhiều khi không có đủ sự khách quan để tìm ra chân lý nên cần áp dụng các phương pháp để tiếp xúc với người khác, điều này gọi là xã hội học về xã hội học (reflexive sociology). Trong mối quan hệ mặt đối mặt giữa người phỏng vấn và người trả lời phỏng vấn, ta khó tránh được sự khác biệt về vốn, về tập tục… nhà nghiên cứu cần tránh đặt suy nghĩ của mình lên câu trả lời của người được phỏng vấn, vì mục tiêu của xã hội học là phát hiện ra những cơ chế bị che khuất của sự thống trị.

Tóm lại, theo Bourdieu, mọi phương pháp luận đều là thiết kế xã hội, mà mọi thiết kế xã hội thì đều có tính tương đối.

 

Lê Thị Hạnh tường thuật