Fri, 06/10/2016 - 09:40 - 76 Views

Vào ngày 26/04/2016, tại Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục (Viện IRED) - TP. HCM, Giáo sư Trần Văn Đoàn (Đại học Quốc gia Đài Loan/NTU) đã thuyết trình và đối thoại với tham dự viên về chủ đề “Giáo Dục hay Trồng Người? - Giáo Dục Con Người hay Giáo Dục Công Cụ?"

Theo Giáo sư Đoàn, ông Quản Trọng (725-645 trước Công nguyên), người nước Tề, ông vốn là một nhà ngoại giao, một chính trị gia lỗi lạc, và nhất là một nhà quản lý đại tài trước thời Khổng Tử. Ông là người được cho là từng nói câu: “Kế hoạch cho một năm, không gì bằng trồng lúa; kế hoạch cho mười năm, không có chi hay hơn là trồng cây; kế hoạch cho trăm năm, chẳng có gì ngoài giáo dục con người”. Câu nói của ông hiển nhiên là một triết lý trị quốc, bao gồm kinh tế, chính trị và giáo dục. Câu danh ngôn này đã biến thành phương châm được người Trung Quốc ôm ấp, dù ở bất cứ một chế độ nào, vương triều nào. Nhưng không biết từ khi nào, có lẽ từ thời Hán, những từ “thụ cốc”, “thụ mộc”, “thụ nhân” đều bị hiểu theo cùng một nghĩa của trồng cấy. Trồng lúa, trồng cây và “trồng” người đều là trồng cấy cả.

Ngày xưa, hệ thống khoa cử của Việt Nam được áp dụng theo Trung Quốc. Cũng như Trung Quốc, ta có một truyền thống “trồng người”. Người dân đi học chỉ cốt để chuẩn bị phục vụ nhà vua, để được vinh thân phì gia. Người đậu tú tài sẽ làm ông đồ ở nhà quê, người đậu cử nhân sẽ được làm quan huyện, còn người đậu tiến sĩ sẽ được làm thượng thư. Nhìn chung, mục đích giáo dục chỉ để phục vụ cho chế độ quân chủ, không làm cho xã hội được thăng hoa, vì vậy, phương pháp giáo dục là phục tòng, nhắm mắt đi theo. Người học chỉ học thuộc lòng văn chương thi phú, không được quyền sáng tạo, không được đưa quan niệm mới của mình vào bài thi. Vì vậy, như ta đã biết trong lịch sử Việt Nam, có nhiều người giỏi và sáng tạo nhưng không bao giờ thi đậu, chẳng hạn như Cao Bá Quát, Trần Kế Xương (Tú Xương), …

Đến thời kỳ cách tân giáo dục, chế độ khoa cử Hán Nho ở Trung Quốc đã chấm dứt vào năm1905. Vào thời kỳ này, ở Trung Quốc có sự xuất hiện của nhà hoạt động cách mạng Lương Khải Siêu. Ông Siêu mong muốn đổi mới, bãi bỏ hình thức quan liêu của Trung Quốc và áp dụng khoa học kỹ thuật, bãi bỏ chế độ quân chủ và áp dụng dân chủ. Còn tại Việt Nam, hệ thống khoa cử theo Nho học đã chấm dứt vào năm 1917. Tuy có chung mục đích là mang lại dân chủ cho đất nước, nhà cách mạng Phan Bội Châu muốn áp dụng phương pháp cách mạng bạo lực trong khi nhà cách mạng Phan Chu Trinh lại muốn áp dụng phương thế nâng cao dân trí.

Ngày nay, chúng ta cần đặt lại mục đích của giáo dục. Chúng ta đi học để sống còn, sống được và sống đẹp. Nhằm để sống còn, ta phải học những khả năng sống sót, ví dụ: khả năng biết bơi để không chết đuối khi xuống nước. Ta cần học để có một nghề nghiệp, việc làm, để sống được, chẳng hạn như học cách sử dụng máy vi tính. Ngoài ra ta cũng cần có một lý tưởng để có thể sống đẹp.  

Tóm lại, phần trình bày của diễn giả đã vạch ra sự nguy hại biến con người thành công cụ trong giáo dục trồng người. Đó chính là nguyên nhân cơ bản của cơn khủng hoảng giáo dục hiện nay. Để tìm ra lối thoát, nhất thiết phải trở lại với một nền giáo dục đích thực, lấy người học làm mục đích (the end), lấy cuộc sống hiện tại và tương lai như là mục tiêu (goals), và coi việc cải thiện phương tiện, phương thế, phương pháp giáo dục như là đối tượng (objectives).

Đôi dòng về diễn giả

Giáo sư Trần Văn Đoàn sinh năm 1949 (đăng ký 1948). Sau khi tốt nghiệp trung học tại Đà Lạt, Ông đã du học tại Ý, Pháp, Đức, Áo và Trung hoa Dân quốc theo hệ học bổng. Giáo sư Đoàn tốt nghiệp Tiến sĩ Khoa học tại Pháp (1973); Tiến sĩ Triết học tại Áo (1975), Thạc sĩ Thần học tại Đức (1976). Ngoài ra, Ông hoàn thành Luận án Giảng sư (Habilitation) tại Đại học Salzburg, Áo (1978). Ông cũng được trao tặng bằng Tiến sĩ Danh dự tại Canada (2001), cũng như chức Giáo sư Danh dự tại Đại học Hoa Trung, Trung Quốc (2004), và Giáo sư Đặc cách tại Đại học Trường Vinh, Đài Loan (2012).

Kể từ năm 1975, Giáo sư Đoàn đã tham gia giảng dạy và nghiên cứu về Triết học, Chính trị, Tôn giáo và Khoa học Xã hội tại nhiều đại học ở châu Á, Âu và Mỹ. Ông cũng từng là Tổng biên tập Tập san Triết học Châu Á, Đồng chủ biên của Từ điển Triết học và Tôn giáo (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam), cũng như bộ Đại từ thư Triết học Trung Quốc và là Biên tập viên của trên 30 Tập san nghiên cứu tại Canada, Mỹ, Đài Loan, Nhật, Phi Luật Tân, Thái Lan, Indonesia, cũng như Tập san Triết học của Liên hiệp các Hội Triết học Thế giới, UNESCO, và Hội đồng Nghiên cứu các Giá trị và Triết học - Council for Research in Values and Philosophy (Mỹ).

Lê Thị Hạnh