Fri, 05/30/2014 - 08:56 - 219 Views

Buổi tọa đàm với nhan đề như trên đã được tổ chức tại trường Đại học Hoa Sen vào ngày 25/04/2014, với 70 người tham dự là giảng viên các trường đại học, chuyên gia các cơ quan/ trung tâm nghiên cứu và sinh viên nhiều trường đại học tại TP.HCM.

GS. Bruno (người ngồi bên phải)

Đôi nét về diễn giả

Giáo sư Bruno OLLIVIER đã học song song ngành văn chương cổ điển (đậu bằng thạc sĩ -aggrégation- ngôn ngữ La tinh, Hy Lạp và ngữ văn học) và tiến sĩ ngành ngôn ngữ học – xã hội , sau đó giảng dạy trung học và đào tạo nhân viên ngành giáo dục  trong một vài năm. Ông tham gia đào tạo giáo viên tiểu học và trung học, thanh tra giáo dục và cấp quản lý trong ngành giáo dục. Ông là phó giáo sư ở đại học Reims (Pháp) và sau đó là giáo sư về khoa học thông tin và truyền thông tại Đại học Antilles và Guyane (Université des Antilles et de la Guyane), ở đó ông tham gia đào tạo thạc sĩ (master) và tiến sĩ  về ngành này, đồng thời cộng tác với Đại học Paris IV. Ông cũng có một vài năm điều hành việc hợp tác giáo dục với Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong thời gian đầu, ông nghiên cứu lãnh vực đào tạo từ xa và các mạng lưới. Từ năm 2000, ông đã triển khai các công trình nghiên cứu về căn tính tập thể và mối quan hệ của chúng với các công cụ hỗ trợ truyền thông, và khoa học luận về truyền thông.

Ông đã diễn thuyết ở nhiều nơi trên thế giới (Mêhicô, Colombia, Bra-xin, Argentina, Pháp, Chi Lê v.v.) Ông đã viết khoảng 10 quyển sách và hàng trăm bài báo khoa học.

Tóm tắt nội dung buổi tọa đàm

Một trong những đặc điểm của trường phái Pháp về khoa học thông tin và truyền thông là chú ý đến những hiện tượng liên quan đến ý nghĩa, đến các nhóm, đến quyền lực và   những đặc điểm của các công cụ hỗ trợ trong nghiên cứu về truyền thông.

Từ đó, người ta vận dụng những ngành nghiên cứu về ý nghĩa (ký hiệu học, ngôn ngữ học v.v.), và những ngành khoa học nhân văn (nhân học, xã hội học, tâm lý xã hội), đồng thời quan tâm đến tính vật chất của các công cụ hỗ trợ (tài liệu truyền miệng, viết, nghe nhìn, mạng).

Như vậy, các kết quả nghiên cứu thường có tính liên ngành, chú ý đến nhiều khía cạnh của các hiện tượng phức tạp (E. Morin).

Thêm vào đó là một ví dụ về những biểu hiện của các căn tính tập thể mà những chức năng sẽ biến đổi khi các công cụ hỗ trợ được sử dụng ( báo chí, truyền thanh, internet…) thay đổi.

Nội dung trình bày của diễn giả

Giao tiếp là khả năng mang tính phổ quát, một hiện tượng nhân học. Con người có khả năng tạo ra các thông điệp. Con người biết giao tiếp trước khi biết nói, chẳng hạn một em bé sơ sinh cố gắng bắt được ánh mắt của cha mẹ. Con người người có thể giao tiếp cho đến hơi thở cuối cùng.  

Công cụ giao tiếp

Có bốn công cụ giao tiếp, đó là cơ thể, ngôn ngữ viết, phương tiện nghe nhìn, và mạng internet.

Từ xa xưa con người đã biết giao tiếp bằng cơ thể, như: ánh mắt, nụ cười, tiếng la hét, ngôn ngữ nói, cử chỉ… Con người có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ nói từ lúc 2-3 tuổi. Mỗi ngôn ngữ tương ứng một cách chia cắt thực tế khác nhau. Trong một lãnh thổ, mỗi người giao tiếp trong môi trường xã hội, văn hóa của mình. Các cuộc di dân cho ta thấy người di cư gặp phải những khó khăn trong giao tiếp khi đến một lãnh thổ mới.

Giao tiếp bằng ngôn ngữ viết: nhằm bổ sung cho công cụ giao tiếp bằng cơ thể và ngôn ngữ nói. Công cụ mới này cho phép kiến thức của con người vượt ra ngoài lãnh thổ, đi đến những lãnh thổ khác qua thư từ và những ấn phẩm. Ngôn ngữ viết cũng cho phép kí ức ra khỏi bộ não của con người để truyền sang thế hệ sau. Với ngôn ngữ viết, ta thấy xuất hiện đẳng cấp, giai cấp xã hội. Các quan lại và nhà giáo chuyển giao hiểu biết cho mọi người. Con người có thêm quyền lực kiểm soát, kết nối được quá khứ với hiện tại.

Đến thế kỷ 20, có nhiều phương tiện nghe nhìn mới. Con người không cần phải có mặt ở cùng một nơi để có thể giao tiếp với nhau. Con người cũng không cần học viết, học đọc, vì ai cũng có thể nghe radio (xuất hiện khoảng thập kỷ 1920), xem phim (xuất hiện khoảng thập kỷ 1930),và xem truyền hình (xuất hiện khoảng thập kỷ 1940). Các hình thức giao tiếp mới này có các đặc điểm là: kết hợp hình ảnh và âm thanh, phải có máy móc, nội dung giao tiếp được người khác tiếp nhận dễ dàng, có thể gửi một thông điệp đi cho vô hạn số người trên một lãnh thổ. Nhờ công nghệp phát triển, ta có những công ty chuyên sản xuất những công cụ giao tiếp này: các trạm thu và phát tín hiệu, các hãng phim. Đó là chủ thể kinh tế quan trọng trên thế giới. 

Đến 25 năm cuối của thế kỷ 20, mạng internet và màn hình máy tính xuất hiện. Trước đây khi dùng ngôn ngữ viết, ta cần có nhà in, nhà xuất bản… Muốn nghe radio hoặc xem truyền hình, xem phim, ta phải cần có đài phát thanh, hãng phim… Nay mạng internet có thể tự phát ra thông tin, vượt ra khỏi lãnh thổ chỉ cần một IP (internet protocol – địa chỉ của một máy tính để các máy tính chuyển thông tin cho nhau tránh thất lạc). Công cụ này ngày càng được chế tạo nhỏ gọn hơn và dễ di chuyển hơn, trong khi bộ nhớ và tốc độ xử lý lại càng ngày càng nhanh hơn. Nhiều phương tiện truyền thông khác được hội tụ vào trong cùng một thiết bị, chẳng hạn như điện thoại cũng vừa là radio, truyền hình, sách…

Nhìn chung, các phương tiện giao tiếp này không loại trừ nhau. Sự xuất hiện của internet không loại trừ radio. Các hình thức xã hội, chính trị liên kết chặt chẽ với các phương tiện giao tiếp. Với internet, mỗi người có nhiều hình thức- mà trước đây chưa có- để thể hiện bản thân mình và cũng kiểm soát được những hành động giao tiếp. Tuy nhiên, đối với mỗi nội dung giao tiếp nhất định(một bài hát, một bộ phim), ta phải chọn đúng phương tiện để giao tiếp hiệu quả. Nếu ta dùng ánh mắt, ta có thể thiết lập mối quan hệ dễ hơn, nhưng ánh mắt lại không thể truyền đi những nội dung phức tạp. 

Mức độ giao tiếp

Có ba mức độ giao tiếp, đó là: ý nghĩa, chính trị-xã hội, và kỹ thuật.

Mỗi hoạt động giao tiếp thì có một nội dung, một ý nghĩa khiến ta phải tìm hiểu. Ta không ý thức về thông điệp gửi đi và không ai kiểm tra nội dung ý nghĩa mà ta chuyển tải có được tiếp nhận như ta mong muốn không.  Ta vô tình gửi đi những thông điệp mà ta không biết, thậm chí khi ta không nói gì thì cũng là ta đang gửi đi thông điệp. Trong mỗi tình huống giao tiếp thường có một hay nhiều nội dung ý nghĩa.

Về chính trị-xã hội, việc giao tiếp tạo ra các nhóm vì giao tiếp kết nối mọi người lại với nhau, chẳng hạn như đối với những người cùng ngôn ngữ, cùng văn hóa, cùng chính trị, cùng sở thích… nhưng giao tiếp cũng chia tách con người ra thành nhiều nhóm nhỏ hoặc ngăn cách một cá nhân không được là thành viên của một nhóm nào đó. Giao tiếp phát triển trong nội bộ một số nhóm giúp cho họ tổ chức tốt hơn so với những nhóm khác. Khi ta thấy trong một nhóm nhỏ, có một người phát biểu hoặc mời những người khác phát biểu, thì người đó là nhiều có nhiều quyền lực hơn những người khác. Nhóm nào nắm được phương tiện truyền thông đại chúng thì có nhiều quyền lực hơn. Từ đó, ta thấy có sự phân bậc trong xã hội.

Hiện nay, về kỹ thuật, ngoài công cụ giao tiếp là cơ thể và ngôn ngữ nói, ngày càng có nhiều công cụ hơn để trợ giúp cho việc giao tiếp, chẳng hạn như các phương tiện nghe nhìn, mạng internet. Các công cụ giao tiếp không thể hoán chuyển cho nhau, không thể chuyển tải cùng một nội dung, vì để giao tiếp với nhau thì con người cần phải nắm vững các mã của cùng một công cụ giao tiếp. Ví dụ: Khi dùng ngôn ngữ nói, ta phải cùng nói tiếng Việt để giao tiếp với nhau. Khi dùng văn bản viết, ta có thể chú giải, phân tích, so sánh, tạo khoảng cách giữa ta với công cụ đó. Nhưng với radio, truyền hình, ta không thể ghi chú hoặc so sánh, nhưng bù lại, ta nghe được giọng nói và thấy được nét mặt của người kia. Vì vậy, ta phải chọn công cụ phù hợp với nội dung của thong điệp cần chuyển tải. Người ta cũng sử dụng các loại công cụ giao tiếp khác nhau tùy theo tính cách. Ví dụ: giảng viên thích sử dụng sách, còn sinh viên thích sử dụng truyền hình và internet. 

Khoa học thông tin và truyền thông giao tiếp

Có ba nhóm ngành khoa học: chức năng truyền thông về mặt ý nghĩa, về mặt các nhóm người, và về mặt kỹ thuật. 

Về mặt ý nghĩa, trước hết ta phải tạo ra các thông điệp, vì các ý tưởng, tình cảm, lập luận, thông tin không thể tự lưu thông được. Điều này có nghĩa là ta phải tạo một văn bản, một bài thơ, một bộ phim, một diễn văn chính trị, một buổi hội nghị… nhưng ta cần phải hểu rõ các loại mã dung cho từng loại công cụ giao tiếp. Chẳng hạn, điện ảnh cần có ngôn ngữ điện ảnh, tin học cần có ngôn ngữ tin học… Ngành khoa học xã hội đã nghiên cứu các thể loại văn bản, việc nghiên cứu cấu trúc này rất quan trọng đối với khoa học giao tiếp. Ví dụ: Bất kỳ chuyện kể nào cũng phải có phần khởi đầu, phần cao trào/nút thắt, rồi cuối cùng là phần kết thúc. Ta cũng thấy cấu trúc có trong tuyên truyền chính trị, trong thời sự trên đài truyền hình và trong bản tin, trong sự kiện của một doanh nghiệp. 

Trong giao tiếp, ta có môn ký hiệu học. Một bộ đồng phục, một lá cờ quốc gia, một chuyện kể… đều mang ý nghĩa một hệ thống giá trị. Thông điệp của người phát mang nội dung ý nghĩa càng gần với cách hiểu ý nghĩa của người nhận thì càng hiệu quả. Người nhận thông điệp ở một giai tầng văn hóa khác, thời đại khác, địa phương khác với người phát thong điệp thì sẽ có nguy cơ không hiểu ý nghĩa của thông đệp.

Ta cũng có môn vi xã hội học để nghiên cứu các tình huống giao tiếp giữa người với người, giữa các thể chế (khi hội họp), giữa các quốc gia. Ví dụ: Có những ý thức tập thể, ký ức tập thể được tạo ra và mỗi năm lại được tái hiện thông qua một số nghi thức tôn giáo, chính trị, ở cấp địa phương hoặc cấp quốc gia. Thông qua ký hiệu, ta xác định được mình thuộc quốc gia nào và chia sẻ một số giá trị chung với nhiều người cùng quốc gia đó.

Vì vậy bản sắc dân tộc/ quốc gia là một hiện tượng giao tiếp mang ý nghĩa và được lưu truyền. Bản sắc dân tộc mang một ý nghĩa đặc biệt. Ta cũng có nhiều bản sắc khác nhau như: bản sắc chính trị, bản sắc tôn giáo, bản sắc gia đình,… và ta nhận ra mình trong những câu chuyện kể. Bản sắc tập thể không phải tự nhiên mà có. Đó là hiện tượng văn hóa được xây dựng liên quan đến nhiều lĩnh vực: ý nghĩa, xúc cảm, quyền lực, cấu trúc chính trị, kỹ thuật (của công cụ giao tiếp).

Với chữ viết và ngành in, ý tưởng về quốc gia xuất hiện. Chữ viết giúp phát triển những câu chuyện lớn, chẳng hạn như chủ nghĩa Mác, lịch sử một quốc gia. Sang đến thế kỷ 20, khi công nghiệp nghe nhìn phát triển, và sự di dân đã tạo ra sự khủng hoảng về bản sắc dân tộc. Ngày nay, bản sắc dựa trên cơ sở màu da, ngôn ngữ, thể thao… chứ không còn dựa trên quốc gia nữa, vì bản sắc đã vượt qua lãnh thổ quốc gia.

Lê Thị Hạnh ghi lại.