Tue, 09/30/2014 - 14:41 - 690 Views

Bài 1

TRƯỜNG HỌC PHÁP-VIỆT TRONG THỜI KỲ 1920 - 1945 VÀ SỰ HÌNH THÀNH TẦNG LỚP NỮ TRÍ THỨC -TRƯỜNG HỢP HAI TRƯỜNG NỮ TRUNG HỌC ĐỒNG KHÁNH VÀ ÁO TÍM

TS. Thái Thị Ngọc Dư, TS. Dominique Rolland,

ThS. Nguyễn Thị Nhận, TS. Bùi Trân Phượng

Trung tâm Nghiên cứu Giới và Xã hội - Đại học Hoa Sen & INALCO Paris

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu đặt trọng tâm vào việc thu thập những lời chứng của các thế hệ cựu nữ sinh học tại hai trường Áo Tím (ở Sài Gòn) và Đồng Khánh (ở Huế) trong khoảng thời gian từ 1920 đến 1945, nhằm tìm hiểu những hồi ức và suy nghĩ của người học về quá trình trưởng thành của nữ sinh trong nền giáo dục Pháp – Việt. Tuy trường Pháp – Việt trong bối cảnh của một thuộc địa có những khiếm khuyết, nhưng với tinh thần gạn đục khơi trong, các cựu nữ sinh đã tiếp thu những giá trị nhân văn tốt đẹp của nền văn hóa Pháp, bồi đắp thêm tinh thần dân tộc và đã trưởng thành trong sự giao thoa của hai nền văn hóa Pháp–Việt. Với việc thành lập hệ thống trường Pháp–Việt, lần đầu tiên nữ giới Việt Nam được chính thức đi học, thành đạt và tham gia vào các hoạt động trí thức của xã hội. Lòng tự tin của các thế hệ nữ trí thức đầu tiên này đã được tăng cường với những nhận thức bước đầu về vị trí vai trò quan trọng của phụ nữ trong xã hội.

Từ khóa: giáo dục trung học, nữ sinh, giai đoạn 1920 – 1945, Pháp ngữ, di sản giáo dục, rèn luyện tư duy, giao thoa văn hóa.

LỜI CẢM ƠN

Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn chương trình VALOFRASE (Valorisation du français en Asie du Sud-Est của các tổ chức Pháp ngữ) của các tổ chức Pháp ngữ và trường Đại học Hoa Sen đã tạo điều kiện về chuyên môn và về tài chánh cho nhóm hoàn thành việc nghiên cứu đề tài này.

Bài 2:

SỰ KẾ THỪA GIÁO DỤC PHÁP- VIỆT Ở TRƯỜNG ĐỒNG KHÁNH SAU 1945

Nguyễn Thị Thu, nguyên giám học trường Nữ Trung học Đồng Khánh

TÓM TẮT

Sau năm 1945, hệ thống giáo dục Pháp-Việt đã cáo chung, Việt Nam xây dựng nền giáo dục của một nước độc lập. Nền giáo dục ấy tiếp tục kế thừa tinh thần khoa học và nhân bản của nền giáo dục Pháp-Việt, và kế thừa cả chương trình và cách tổ chức việc dạy và học.Tham luận này tập trung phân tích sự kế thừa này tại trường Nữ Trung học Đồng Khánh Huế.Ngoài ưu điểm nổi bật của chương trình Hoàng Xuân Hãn về tính khoa học và dân tộc, nữ sinh Đồng Khánh đã kế thừa tinh thần bình đẳng với nam giới trong học tập. Nữ sinh theo học chương trình thống nhất về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cho nam và nữ giới, nhờ đó nữ sinh kế thừa tri thức khoa học đã có từ chương trình Pháp –Việt. Ngôn ngữ, văn học và văn hóa Pháp tiếp tục được nữ sinh yêu thích.Nếu môn nữ công gia chánh rèn luyện cho nữ sinh những kiến thức và kỹ năng chăm lo gia đình thì các môn thể dục, nhạc, họa giúp cho nữ sinh mạnh dạn, năng động để trở thành người phụ nữ của thời đại mới.

Bài 3:

HỒI ỨC BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

TS. Thái Thị Ngọc Dư, ThS. Nguyễn Thị Nhận, ThS. Lê Hoàng Anh Thư

Trung tâm nghiên cứu Giới và Xã hội - Đại học Hoa Sen

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu này có mục đích thu thập những lời chứng của những người mẹ đã sống qua hai cuộc kháng chiến, những người mẹ đã được vinh danh Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, ngày nay tuổi đã cao và sức khỏe sút kém. Sau phần điểm qua thư tịch trình bày một cách tổng quát vai trò của của phụ nữ Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến, những hy sinh thầm lặng của hàng triệu nữ thanh niên, của những bà mẹ trẻ đã mất chồng, mất nhiều con cho độc lập của tổ quốc cùng những khó khăn của họ thời hậu chiến, bài nghiên cứu đã trình bày kết quả của các cuộc trò chuyện với 16 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Hoàn cảnh hy sinh của chồng và các con luôn in đậm nét trong ký ức của các bà mẹ dù nhiều năm đã trôi qua. Dù thương nhớ chồng con khôn nguôi, dù phải sống trong cô đơn, các bà đều cho rằng đó là do hoàn cảnh chiến tranh, phải chấp nhận hy sinh vì độc lập của tổ quốc. Các bà cũng không hề oán trách hay nuôi lòng thù hận đối phương. Bản thân các bà đã tham gia tích cực các hoạt động kháng chiến và đã từng bị tù đày.Các bà luôn giữ những ký ức tốt đẹp về quãng đời hoạt động cách mạng nhiều gian nguy nhưng vô cùng tự hào.

Đã từng đau khổ nhiều trong chiến tranh, lòng yêu hòa bình là nét nổi bật trong suy nghĩ và tình cảm của các bà mẹ Việt Nam anh hùng trong thời hậu chiến.

Bài 4:

VÀI NÉT VỀ Ý THỨC NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC THỜI HIỆN ĐẠI

                                                                                    Ths. Hồ Khánh Vân

Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP.HCM

TÓM TẮT

Trong thế kỷ XX, sự thức tỉnh về quyền của người phụ nữ đã nổi lên mạnh mẽ trong không gian phương Tây, rồi nhanh chóng lan tỏa sang địa hạt của phương Đông và trở thành một hiện tượng mang tính toàn cầu. Từ những hoạt động thực tiễn của phong trào đấu tranh nữ quyền trong xã hội tư sản phương Tây, lý thuyết nữ quyền ra đời, đặt ra các vấn đề mang tính nhận thức luận về giới, đòi hỏi sự nhìn nhận lại mối tương quan giới tính trên quan điểm bình đẳng, đi vào phân tích các hệ quả của nền văn hóa nam quyền và dần phá vỡ những định kiến giới đã chi phối loài người xuyên suốt một quá trình lịch sử lâu dài.

Tuy nhiên, ở phương Đông, trong đó có Việt Nam và Trung Quốc, ý thức nữ quyền lại mang những nét đặc thù riêng biệt, gắn liền với bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội… của các quốc gia này. Với một mối quan hệ khá đặc biệt và phức tạp, kéo dài từ thời phong kiến đến thời hiện đại, Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng và khác biệt trong ý thức về quyền của người phụ nữ. Một mặt, những điều kiện đời sống đã hình thành nên quan niệm về nữ giới ở hai quốc gia từ hàng nghìn năm qua như là yếu tố nội sinh của ý thức nữ quyền, một mặt khác, sự tác động của tư tưởng nữ quyền phương Tây vào đầu thế kỷ XX đóng vai trò của yếu tố ngoại lai, tạo nên cú hích thúc đẩy sự hình thành và phát triển của các hoạt động nữ quyền trên hai vùng đất này. Bài viết của chúng tôi đi vào trình bày một vài nét khái quát về quá trình hình thành, phát triển cũng như những đặc điểm cơ bản của ý thức nữ quyền ở Việt Nam vàTrung Quốc thời hiện đại (tính từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đến nay) từ góc nhìn so sánh để đưa ra một số kết quả nghiên cứu bước đầu về vấn đề này

Bài 5:

QUÁ TRÌNH ĐẶT NỀN TẢNG CHO LÝ THUYẾT NỮ QUYỀN PHƯƠNG TÂY CỦA BA TÁC PHẨM: CĂN PHÒNG RIÊNG (VIRGINIA WOOLF), GIỚI NỮ (SIMONE DE BEAUVOIR), VÀ SỰ THỐNG TRỊ CỦA NAM GIỚI (PIERRE BOURDIEU)

 

Trần Phượng Linh

Khoa Văn học và Ngôn ngữ,

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM

TÓM TẮT

Bước chuyển mình qua ba giai đoạn phát triển căn cốt đã đưa lý thuyết nữ quyền phương Tây tiếp cận vấn đề giới ngày một sâu sắc, đa chiều với hàng loạt các nhánh rẽ phong phú, táo bạo. Ngày nay, vấn đề nữ quyền đã thực sự xuyên thấm vào mọi lĩnh vực đời sống, cho thấy tầm giá trị của nó trong thời kỳ hiện đại và đặc biệt là hậu hiện đại. Thông qua ba tác phẩm chủ đạo cho từng giai đoạn (Căn phòng riêng (A Room of One’s Own – Virgina Woolf), Giới nữ (The Second Sex – Simone de Beauvoir), Sự thống trị của nam giới (Masculine Domination – Pierre Bourdieu)), bài viết khái quát những luận điểm trọng yếu của từng công trình, đánh dấu tiến trình nữ quyền trên bình diện lý thuyết tư tưởng.

Bài 6:

NGƯỜI NỮ - BIỂU TƯỢNG CỦA CÁI ĐẸP HAY NHÂN VẬT HÓA GIẢI QUYỀN UY NAM GIỚI TRONG NGHÌN LẺ MỘT ĐÊM

 

Phạm Nguyễn Mỹ Tiên

Sinh viên Cao học Văn học nước ngoài 2012

 Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP. HCM

TÓM TẮT

Như chúng ta đã biết, Nghìn lẻ một đêm là pho sách quý giá được G.M.Wickens gọi là “một trong những vinh quang của văn chương Arab”.Tác phẩm nổi bật với những nhân vật đầy sức sống, thể hiện rõ âm hưởng thời đại, đặc biệt hình ảnh người phụ nữ với ý thức nữ quyền mạnh mẽ.Tư tưởng ấy hiện lên như là bản năng, phản ứng của giới nữ trước điều kiện xã hội.Mặc dù tác phẩm ra đời trước khi có sự xuất hiện của lý thuyết phê bình nữ quyền, song Nghìn lẻ một đêm lại chứa đựng mầm mống ý thức nữ quyền.

  • 1.Trong tác phẩm, những người phụ nữ hiện lên sáng ngời không chỉ bởi vẻ đẹp bên ngoài mà còn bởi vẻ đẹp thanh sạch trong tâm hồn. Về ngoại hình, vẻ đẹp ấy trước hết được bộc lộ qua hình dáng, cử chỉ của nàng Shahrazad.Các nhân vật trong lời kể của nàng cũng có nhan sắc tuyệt trần. Đa phần hình ảnh những người phụ nữ đều được miêu tả với vẻ đẹp nhục thể hết sức tỉ mỉ, táo bạo bằng một thái độ chiêm ngưỡng, ngợi ca. Về mặt tâm hồn, những người phụ nữ trong Nghìn lẻ một đêm chính là hình mẫu chotình yêu mãnh liệt, sự chung thủy và đức hạnh. Họ không những dũng cảm, thông minh, có hiểu biết sâu rộng, có lòng yêu thương người sâu sắc mà còn hết sức trung thực, thật thà.Đó là chưa kể đến tài năng đa dạng cũng như sự khéo léo, đảm đang của họ. Từ việc khai thác hình ảnh người phụ nữ như là biểu tượng của cái đẹp, người viết muốn khẳng định: Tác phẩm chứa đựng ý thức phản kháng của người phụ nữ đối với đàn ông và xã hội ngay từ bên trong. Người phụ nữ không chỉ được ngợi ca với vẻ đẹp thể xác lẫn tâm hồn mà họ còn có quyền đòi hỏi, quyền tận hưởng, khát khao hạnh phúc.Việc miêu tả tỉ mỉ vẻ đẹp hình thể cũng như sự xuất hiện tràn ngập những yếu tố tính dục khi nói về tình yêu trong tác phẩm chính là một trong những biểu hiện sắc nét của ý thức nữ quyền.
  • 2. So với nam giới, thế giới nhân vật nữ trong Nghìn lẻ một đêm dày đặc với cá tính và đời sống tâm lý sâu sắc, sinh động hơn rất nhiều. Điều đáng nói là tác phẩm phản ánh được một bản chất thực tế rằng, trong môi trường văn hóa bấy giờ, đàn ông thật sự lo lắng khi đối diện với phụ nữ. Đi sâu vào tác phẩm, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tiếng nói của người phụ nữ rất được coi trọng, có tác động mạnh mẽ đến những người xung quanh.Sắc đẹp của họ khiến đàn ông ngưỡng mộ, bi lụy.Những người phụ nữ có thể dùng nhan sắc, sự hấp dẫn giới tính cũng như phép thuật của mình để điều khiển đàn ông, hóa giải quyền lực, thậm chí nắm giữ sinh mạng của những người đàn ông. Đây cũng chính là điều khiến cho tác phẩm mang một tinh thần nhân văn cao cả: dù trong xã hội Hồi giáo chứa đựng nhiều quy định hà khắc thì người phụ nữ cũng có chỗ đứng và tiếng nói riêng.

Đến với tác phẩm, người đọc không khỏi băn khoăn: trong một xã hội tồn tại nhiều bất bình đẳng như xã hội Hồi giáo, tại sao người ta lại thể hiện người phụ nữ như là biểu tượng của cái đẹp và là nhân vật hóa giải quyền uy nam giới? Cái hay, cái thú vị là ở chỗ một tác phẩm đồ sộ ra đời trong bối cảnh văn hóa Hồi giáo lại chứa đựng tinh thần phản Hồi giáo, “chống kinh Koran”.Có thể nói, tính dục là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống người Arab.Và vì thế, hình ảnh những người phụ nữ hiện lên như là biểu tượng của cái đẹp trước hết phản ánh ước muốn, khát khao đầy nhục thể, khát vọng hòa hợp nam – nữ của đàn ông Arab.Việc trao cho những người phụ nữ quyền lực tối thượng phản ánh tâm lý phản kháng của người phụ nữ cũng như tâm lý lo sợ bị phản bội của người đàn ông bấy giờ.Khám phá Nghìn lẻ một đêm từ khía cạnh hình tượng người phụ nữ, chúng tôi mong muốn góp thêm một cái nhìn mới giúp khẳng định vẻ đẹp tác phẩm trên phương diện ý thức nữ quyền.

Bài 7:

NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Ths. Nguyễn Thị Hà

Viện Nghiên cứu Phát triển TP.HCM

TÓM TẮT

Qua khảo sát “nhận thức của người dân về bình đẳng giới tại Thành phố Hồ Chí Minh”, chúng tôi thu được một số những phát hiện sau. Từ các chỉ số đo lường nhận thức chung của người dân về bình đẳng giới thì kết quả cho thấy, đa số người dân đã từng nghe đến Luật bình đẳng giới. Tuy nhiên, khi hỏi người dân hiểu như thế nào về bình đẳng giới thì số người trả lời gần đúng chỉ có trên 50%.Tỷ lệ nam giới hiểu đúng về bình đẳng giới thấp hơn so với nữ giới, điều này cũng là bắt nguồn từ việc đa số các buổi tuyên truyền thì tỷ lệ nam tham gia ít hơn nữ giới.Những người có trình độ học vấn cao có nhận thức về bình đẳng giới tốt hơn những người có trình độ thấp. Nhóm công chức/viên chức và lãnh đạo quản lý có nhận thức chung về bình đẳng giới tốt hơn các nhóm nghề nghiệp khác.

Qua khảo sát cũng cho thấy, đa số người dân cho rằng khả năng thăng tiến của cả nam và nữ đều ngang nhau. Tuy nhiên, số người cho rằng khả năng thăng tiến của nam vẫn cao hơn khả năng thăng tiến của nữ.  Khi hỏi về “phụ nữ có gặp khó khăn trong công việc không?” thì đa số cho rằng phụ nữ gặp khó khăn hơn nam giới trong công việc, chủ yếu tập trung trong các khối Kỹ sư/công nhân/thợ thủ công (từ bậc 4 trở lên); công chức viên chức và lao động tự do. Và thêm vào đó là việc tiếp cận vốn để thành lập doanh nghiệp của nam và nữ đều có cơ hội như nhau.Điều đáng chú ý, số người cho rằng phụ nữ dễ tiếp cận vốn hơn nam giới chiếm tỷ lệ cao.

Trong lĩnh vực gia đình người dân vẫn cho rằng những việc làm nội trợ; chăm sóc con cái hay giặt giũ … là việc làm của phụ nữ, từ các câu hỏi về hàng ngày ai làm những công việc trong gia đình đến câu hỏi ai nên làm hay ai làm sẽ phù hợp hơn thì đa số người dân cho rằng phụ nữ nên làm các công việc gia đình. Chính những nhận thức ăn sâu vào mỗi người dân như thế đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện bình đẳng giới trong gia đình.

Từ những nhận thức về vai trò của người phụ nữ là chăm sóc gia đình và ở nhà đã ăn sâu vào tư tưởng nhiều người dân và được thể hiện khá rõ trên các phương tiện truyền thông đại chúng đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng và cơ hội tham gia chính trị cũng như tham gia kinh tế của người phụ nữ. Trong lĩnh vực chính trị tỷ lệ người dân đồng tình với việc phụ nữ làm lãnh đạo không cao và họ luôn gắn cho phụ nữ những đức tính phù hợp với công việc gia đình như tỷ mỉ, cẩn thận… và gắn cho nam giới những đức tính như quyết đoán…Do ảnh hưởng của các quan niệm gia trưởng, phong kiến nên một bộ phận người dân trong khảo sát vẫn còn có tư tưởng định kiến giới, đánh giá thấp vai trò của phụ nữ và cho rằng phụ nữ chỉ nên gắn với công việc nội trợ, gia đình, hạn chế trong khả năng tham gia chính trị và quản lý.

Trong lĩnh vực y tế phần nào nhận thức của người dân được nâng cao khi khả năng và cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế của nam và nữ đã được đồng đều, phụ nữ được chăm sóc tốt hơn khi mang thai và sau sinh. Tỷ lệ tử vong mẹ giảm dần qua các năm. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điều cần phải quan tâm đó là tư tưởng thích con trai vẫn còn ăn sâu trong suy nghĩ của nhiều người điều này dẫn đến việc chênh lệch giới tính sau sinh và lựa chọn giới tính thai nhi. Đa số người trong mẫu khảo sát cho rằng có con trai để nối dõi tông đường hay chăm sóc bố mẹ khi về già, đó là những suy nghĩ mang nặng tính phong kiến, gia trưởng cần phải thay đổi.  Nhiều người đã có những nhận thức đúng khi cho rằng việc lựa chọn giới tính thai nhi là một việc làm vô đạo đức và vi phạm pháp luật, tuy nhiên cũng có người cho rằng đó là chuyện bình thường. Nhiều nam giới còn chưa có nhận thức đúng khi cho rằng nói đến chăm sóc sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình hay phòng tránh thai là việc của phụ nữ, điều này thể hiện rõ nhất khi các buổi truyền thông về sức khỏe sinh sản và việc phòng tránh thai thì đa số là phụ nữ tham gia, việc đó đặt gánh nặng phòng tránh thai, gánh nặng chăm sóc sau sinh lên đôi vai người phụ nữ trong gia đình.

24/7/2014

Bài 8 và 9:

TÌM HIỂU SUY NGHĨ VÀ NHẬN THỨC  CỦA GIẢNG VIÊN, NHÂN VIÊN VÀ SINH VIÊN HOA SEN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI  TRONG GIA ĐÌNH, Ở NƠI LÀM VIỆC / HỌC TẬP VÀ TRONG CỘNG ĐỒNG

TS. Thái Thị Ngọc Dư, ThS. Doãn Thi Ngọc,

ThS. Nguyễn Thị Nhận, ThS. Phan Trịnh Hoàng Dạ Thy

TÓM TẮT

Dựa vào các phỏng vấn định tính 20 giảng viên-nhân viên (GV-NV) và 62 sinh viên, đề tài phân tích nhận thức và quan điểm của giảng viên-nhân viên và sinh viên Hoa Sen về các vấn đề giới và bình đẳng giới trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội.

GV-NV cho rằng nữ giới còn chịu nhiều bất bình đẳng trong cả ba môi trường gia đình, nơi làm việc và xã hội.Năng lực trí tuệ của nữ giới không được thừa nhận đúng mức.Tuy ủng hộ bình đẳng giới nhưng cả nam và nữ GV-NV vẫn còn nhiều ngộ nhận, vai trò giới truyền thống vẫn còn được xem là hợp lý, còn dè dặt với vai trò lãnh đạo của phụ nữ. Sự khác biệt về nhận thức và quan điểm về giới của GV-NV xuất phát từ sự tiếp xúc và tiếp nhận đồng thời nhiều tư tưởng, nhiều yếu tố của các tầng văn hóa từ trong quá khứ cho đến hiện tại, tùy theo đặc điểm văn hóa của gia đình nơi họ sinh ra và lớn lên, tùy theo môi trường xã hội mà họ đã sống và tùy theo sự học hỏi của từng cá nhân.

LỜI CẢM ƠN

Nhóm nghiên cứu đê tài xin chân thành cám ơn các anh chị giảng viên, nhân viên và các bạn sinh viên của trường Đại học Hoa Sen đã nhận lời tham gia các cuộc phỏng vấn.Nhóm đã chọn phương pháp phỏng vấn định tính để thực hiện đề tài này. Nhóm đã cố gắng ghi nhận lại một cách trung thực nội dung, ý tưởng của các cuộc đối thoại với mong muốn trình bày một bức tranh phong phú về những suy nghĩ, nhận định của giảng viên, nhân viên và sinh viên về những vấn đề giới và bình đẳng giới. Chính nhờ những chia sẻ của đồng nghiệp và sinh viên mà nhóm mới có thể thực hiện đề tài này.Chúng ta có thể xem đây là một nghiên cứu có sự tham dự mà tác giả là tất cả chúng ta, những người phỏng vấn và những người được phỏng vấn.Mong các anh chị đồng nghiệp và các bạn sinh viên xem bản báo cáo này là sự thể hiện lòng biết ơn và tình cảm của nhóm đối với sự tham gia và hỗ trợ nhiệt tình của các anh chị và các bạn trong quá trình nghiên cứu.

Xin gửi lời cám ơn chân thành đến lãnh đạo trường Đại học Hoa Sen đã luôn ủng hộ, khuyến khích phát triển hoạt động nghiên cứu, trong đó có nghiên cứu về giới, và đã hỗ trợ tài chính cho nghiên cứu này.

Cám ơn các bạn đồng nghiệp Lê Hoàng Anh Thư, Nguyễn Hoàng Chiêu Anh và Hồ Thị Hòa đã tham gia cùng nhóm trong giai đoạn đầu.

                                                                        Ngày 02 tháng 12 năm 2012

                                                                        Nhóm nghiên cứu đề tài

Bài 10:

NGHIÊN CỨU VỀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN ĐỒNG THÁP

VỀ VẤN ĐỀ MUA BÁN NGƯỜI

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ThS. Tôn-Nữ Ái-Phương

                               THÀNH VIÊN: ThS.Lâm Thị Ánh Quyên & ThS. Lê Thị Mỹ Hiền

Khoa Xã hội học & Công tác Xã hội

Đại học Mở - TP.Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Cuộc nghiên cứu được thực hiện để tìm hiểu nhận thức của người dân tỉnh Đồng Tháp (tập trung chủ yếu ở thành phố Cao Lãnh) về vấn đề mua bán người nói chung và đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em nói riêng .

Cuộc nghiên cứu tập trung vào việc tìm hiểu ba vấn đề cụ thể là: những hiểu biết của người dân về vấn đề mua bán người, về luật pháp liên quan đến việc mua bán người, và về những quan điểm của người dân và phản ứng của họ về những vấn đề liên quan đến mua bán người.

Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng, nhóm nghiên cứu đã thực hiện được 103 cuộc phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng câu hỏi bán cấu trúc với 254 trong thời gian 18 tháng (từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2013) và báo cáo cuối cùng đã được hoàn tất vào tháng 12/2013.

Cuộc nghiên cứu đã đem lại những phát hiện khá thú vị nhưng cũng đáng lo ngại đối với công cuộc bảo vệ người Việt nói chung , phụ nữ và trẻ em nói riêng. Từ những phát hiện đó, nhóm nghiên cứu cũng đã đề xuất một số các giải pháp để giúp tăng cường nhận thức của người dân về vấn đề mua bán người, về luật pháp có liên quan và giúp hình thành những phản ứng tích cực trong người dân trong việc phòng chống nạn mua bán người.

Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ rất có ích cho các cơ quan chức năng không những là ở tỉnh Đồng Tháp mà còn ở các tỉnh thành khác trong nước trong việc phát triển các kế hoạch chiến lược nhằm giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân trong việc cảnh giác với tệ nạn buôn bán người và ngăn ngừa tên nạn này ở các địa phương.

Bài 11:

VAI TRÒ PHỤ NỮ VEN ĐÔ TRONG QUÁ TRINH ĐÔ THỊ HÓA TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, ĐIỂN CỨU QUẬN VEN BÌNH TÂN

TS. Ngô Thị Thu Trang,

Khoa Địa lý,

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG. TP.HCM.

TÓM TẮT

 Đô thị hoá là một xu thế tất yếu của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng, nhất là những thành phố lớn như thủ đô Hà Nội hoặc Thành Phố Hồ Chí Minh. Trong đó khu vực ven đô phát triển nhanh và mang tính chất tự phát đã tạo nên một bộ mặt riêng biệt của khu vực chuyển đổi giữa nông thôn lên đô thị. Lối sống khu vực ven đô thay đổi nhanh trong quá trình đô thị hóa, nhất là vai trò người phụ nữ bị tác động giữa văn hóa truyền thống và sự tiếp cận của nhịp sống hiện đại. Tuy nhiên sự thay đổi này vẫn còn để lại nhiều mâu thuẩn trong bối cảnh văn hóa phương đông khi vai trò phụ nữ phải đảm bảo “tam tòng”, “ tứ đức”. Phụ nữ tham gia vào việc làm tạo thu nhập nhưng cũng phải bảo đảm cho việc chăm sóc gia đình. Nhìn từ góc độ địa lý, tác giả tiếp cận sự chuyển đổi lối sống, vai trò người phụ nữ thuộc ba nhóm dân cư trên địa bàn nghiên cứu gồm: Nhóm dân có quyền sở hữu đất đai cư trú lâu đời tại địa phương, và nhóm dân thuê trọ (tìm thấy ở khu vực dân cư lâu đời và khu vực phát triển tự phát). Nhóm dân cư mới có sở hữu đất đai (cư trú trong những khu quy hoạch theo chương trình dự án). Với những phương pháp tiếp cận khác nhau trên cơ sở phỏng vấn sâu (45 mẫu), bảng hỏi (304 mẫu) và quan sát thực tế tại Quận ven Bình Tân, một trong những khu vực ven đô với tốc độ đô thị hóa cao của Thành Phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã nhìn nhận sự khác biệt trong việc chuyển đổi vai trò của phụ nữ thuộc ba nhóm dân cư này. Sự chuyển đổi từ cuộc sống nông thôn lên đô thị đã “đặt” người phụ nữ vào vai trò kép. Họ muốn thoát ra quan niệm gia trưởng trong gia đình và ngày càng khẳng định vai trò độc lập của mình trong xã hội, nhưng cũng phải bảo đảm việc chăm sóc, vun vén cho hạnh phúc gia đình. Quyền và nghĩa vụ của người phụ nữ được nâng cao cũng là nguyên nhân của những mâu thuẩn gia đình. Qua bài viết tác giả muốn trình bày những thay đổi vai trò phụ nữ trong quá trình đô thị hóa của khu vực ven đô và những mâu thuẩn gia đình do những thay đổi mang lại. Vai trò phụ nữ thể hiện cụ thể ở vai trò quyết định, vai trò nội trợ, chăm sóc con cái và gia đình cùng với xu hướng độc lập của người phụ nữ trong xã hội chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị.

Từ khoá: Vai trò phụ nữ, đô thị hoá, vùng ven, thay đổi lối sống.

Bài 12:

THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN VÀ QUẢN LÝ CỦA NỮ TRÍ THỨC TRONG ĐỘ TUỔI TỪ 56 ĐếN 60 TUỔI TẠI TP. HỒ CHÍ MINH

TS. Thái Thị Ngọc Dư, Ths. Lê Thị Hạnh, Ths. Nguyễn Thị Nhận

TÓM TẮT

Trong đà phát triển nhanh của Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), một vấn đề mà các cơ sở kinh tế xã hội đang đối mặt là thiếu nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm quản lý, trong khi đó TP.HCM cũng là nơi qui tụ một lực lượng lao động nữ đáng kể có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao. Đề tài này đặc biệt chú trọng đến lực lượng nữ trí thức ở độ tuổi từ 56 đến 60 tuổi tại TP.HCM, họ đã tích lũy nhiều kinh nghiệm, có bề dày kiến thức, sức khỏe còn tốt, và còn có thể huy động vào lực lượng lao động được vì hiện nay tỷ lệ sử dụng lao động nữ trong độ tuổi này thấp hơn các lứa tuổi trẻ hơn, do hạn chế về tuổi hưu. Thêm vào đó, hiện nay bình đẳng giới là một chiến lược phát triển mà Đảng và Nhà nước rất chú trọng nhằm bảo đảm một tương lai phát triển công bằng và bền vững.

Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy dù đã chính thức nghỉ hưu ở cơ quan, nhưng một số chị tiếp tục ký hợp đồng làm thêm vài năm nữa, và phần lớn các chị ra làm việc cho tư nhân. Nhiều chị cho rằng nghỉ hưu ở độ tuổi 55 là một sự lãng phí nguồn nhân lực của cơ quan và nhà nước nói chung.  Về mặt tâm lý, trước lúc nghỉ hưu, một số chị đã chuẩn bị từ rất lâu, chẳng hạn bằng cách đi học thêm chuyên môn để có thể kiếm được việc làm ở khối tư nhân, sau khi nghỉ hưu. Nhìn chung, phụ nữ trí thức không giàu như phụ nữ doanh nhân, nhưng các chị cũng không quá thiếu thốn như phụ nữ công nhân, đó là nhờ tác động của giáo dục.

Trung tâm nghiên cứu Giới và Xã hội- Đại học Hoa Sen (tổng hợp)

Xem thêm:

Hội thảo báo cáo các kết quả nghiên cứu về giới và xã hội