Wed, 05/25/2016 - 10:28 - 222 Views

Buổi trao đổi học thuật với chủ đề "Vào đại học dưới góc nhìn xã hội học" với diễn giả là Ths.Phạm Như Hồ, giảng viên Xã hội học, đã được tổ chức vào ngày 28/04/2016 tại Trung tâm Nghiên cứu Giới và Xã hội, trường Đại học Hoa Sen. Bắt đầu buổi nói chuyện ông Hồ tỏ ra thích thú về hiện tượng thi tuyển đại học ở Việt Nam vì có sự khác biệt so với nơi ông sinh sống tại Tây Âu. Tại Việt Nam việc tuyển sinh đại học được tổ chức như một hiện tượng chuyển dịch, trong đó huy động rất nhiều nguồn lực: nhiều người, nhiều tổ chức, nhiều ngành nghề khác nhau, được diễn ra trong thời gian lâu dài với sự chuẩn bị khoảng hai đến ba tháng trước khi kỳ thi diễn ra. Còn ở Tây Âu hiện tượng này diễn ra với cách thức khá êm xuôi và không được phản ánh nhiều trên báo chí.

Mỗi năm hiện tượng này ở Việt Nam đều có sự thay đổi, vì mỗi năm Bộ Giáo Dục Việt Nam đều đưa ra những qui chế mới, điều luật mới. Vì vậy dẫn đến những người tham dự vào qui trình thi tuyển đại học với tư cách là thí sinh và gia đình đều hoang mang. Do môi trường thi tuyển ở Việt Nam có khá đông sinh viên từ các tỉnh đi đến các thành phố lớn để thi đại học, trong đó có nhiều thí sinh thuộc diện nghèo khó, nên tại đây những nhà thờ, chùa, tổ chức từ thiện thường tổ chức nơi ăn nơi ở cho các thí sinh.

Đứng trên phương diện nhà nghiên cứu, ông Hồ rất ngạc nhiên vì tuy rằng đây là một hiện tượng rất quan trọng, làm xã hội sôi động trong vài tháng nhưng  khi ta đi tìm các tài liệu nghiên cứu về những vấn đề này, hầu như không thấy những nghiên cứu nghiêm túc và khách quan. Chẳng hạn như không có những nghiên cứu nêu lên những lý do, nguyên nhân vì sao một thí sinh lại quyết định thi vào đại học và thi vào ngành nào, nghề nào, trường nào. Đó là những câu hỏi cơ bản mà chúng ta cần đặt ra khi nhìn vào một hiện tượng nào đó. Khi ta nói về những lý do, ta có lý do cá nhân, lý do ở bên trong, lý do chính đáng hay không chính đáng. Còn khi nói về nguyên nhân, ta thường nói về những nguyên nhân bên ngoài, như: yếu tố kinh tế - xã hội tác động đến quyết định lựa chọn thi vào đại học.

Để tiếp cận vấn đề có hai xu hướng nghiên cứu khác nhau. Một xu hướng xuất phát từ cá nhân của thí sinh gọi là cá nhân luận, và một xu hướng khác, nghiên cứu dưới góc độ tác động của các yếu tố về nguyên nhân chính trị xã hội, được gọi là tổng thể luận. Hai xu hướng này đã xuất hiện ngay từ khi môn xã hội học được thành lập ra, với hai người là Max Weber nghiên cứu cá nhân luận, và Émile Durkheim nghiên cứu tổng thể luận.

Ông Hồ cho biết khi nghiên cứu đề tài này, ông đã tìm kiếm những tài liệu ở Việt Nam và nước ngoài để so sánh và đối chiếu. Như đã nói ở trên, tại Việt Nam hoàn toàn không có một tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc nào về việc thi tuyển sinh đại học. Trong khi đó, ở nước ngoài lại có rất nhiều nghiên cứu, vì giáo dục là một chủ đề được nhiều nhà xã hội học quan tâm. Ông Hồ cũng đặt ra vấn đề tại sao một lĩnh vực như giáo dục lại bị xem thường bởi những nhà khoa học như vậy. Đó là một nghịch lý đang diễn ra.

Thi vào đại học là một hiện tượng hoặc một bước ngoặt đối với thí sinh vì khi đăng ký thi tuyển, thí sinh có thể đậu hoặc không đậu. Vào những năm ông Hồ học bên Pháp có cuộc tranh luận giữa hai nhà xã hội học: Raymond Boudon tiêu biểu cho cá nhân luận và Pierre Bourdieu tiêu biểu cho tổng thể luận.

Cá nhân luận xuất phát từ nguyên lý của kinh tế học, về con người kinh tế. Con người kinh tế là con người có tính duy lý, có khả năng tính toán những lựa chọn thuần lý nhất, nhằm mang lại những lợi ích cao nhất với những chi phí thấp nhất. Con người kinh tế biết tính toán những lợi ích của bản thân, những phương tiện mình có thể huy động, so sánh những chi phí phải bỏ ra với những kết quả thu lượm được, để từ đó đưa ra những quyết định thuần lý nhất. Đó những nguyên tắc cơ bản của kinh tế học.

Theo Raymond Boudon, khi những nguyên tắc kinh tế cơ bản này được chuyển sang xã hội học, thay vì con người kinh tế ta có con người xã hội. Trong quá trình học tập của một học sinh từ lớp nhỏ tới lớp 12, học sinh đó cùng với gia đình phải có sự lựa chọn dựa trên sự so sánh giữa chi phí và lợi ích, để có những lựa chọn có lợi nhất cho bản thân. Thi vào đại học cũng là sự lựa chọn, nên hay không nên thi vào đại học, hoặc nên thi vào đại học hay cao đẳng và nếu thi vào đại học thì thi vào ngành, nghề nào. Tất cả những ý kiến trên đều dựa trên chi phí và lợi ích. Chi phí đây là thời gian, tiền tài và vật chất. Còn lợi ích thì khó xác định hơn, vì vào đại học là vào một môi trường mới, có sự ước đoán về một mức lợi ích nào đó mà thí sinh sẽ có được.

Đối với những học sinh thuộc thành phần nghèo khó trong xã hội, dựa trên những hiểu biết và thông tin của họ, họ thường cho rằng đầu tư vào đại học không mang lợi ích cho họ, nên họ không quyết định thi vào đại học, và họ lựa chọn những ngành nghề có khả năng tốt nhất cho họ. Trong suốt quá trình lựa chọn, cá nhân đó không lựa chọn một cách "trống rỗng", mà những lựa chọn đều dựa trên cơ sở thông tin từ thầy, cô giáo, v.v… nhưng quyết định cuối cùng vẫn là ở học sinh đó. Đây là một ví dụ của cá nhân luận.

Về phía Pierre Bourdieu và tổng thể luận, tham vọng của Pierre Bourdieu là vạch trần cơ chế che dấu bất bình đẳng trong xã hội; không những che dấu mà cơ chế này còn chính đáng hóa các bất bình đẳng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Bourdieu vạch trần ra những điều được xã hội mặc nhiên công nhận.

Mỗi con người trong cuộc sống của mình đều phải đối phó với một số tình huống buộc phải lựa chọn và quyết định, và do đó phải có chiến lược. Sự lựa chọn dựa trên sự phối hợp giữa vốn (capital) và tập tính (habitus) được áp dụng cho một trường (field). Vốn là một tài sản nào đó mà chúng ta sở hữu, theo Bourdieu có bốn loại vốn: vốn kinh tế, vốn xã hội, vốn văn hóa, và vốn biểu tượng. Mỗi loại vốn này có thể chuyển đổi thành một loại vốn khác. Thí sinh cùng với gia đình sẽ huy động bốn loại vốn này để chuẩn bị cho kỳ thi tuyển vào đại học. Ví dụ: Một thí sinh thuộc gia đình rất giàu sắp thi vào đại học nên em lựa chọn vào một lớp luyện thi, em đã kiếm một người giàu vốn văn hóa để dạy em học, đây là sự chuyển đổi từ vốn kinh tế sang vốn văn hóa. Như vậy ngay trong việc huy động vốn đã tồn tại bất bình đẳng vì không phải người nào cũng có vốn giống nhau. Một người có thể giàu có về vốn kinh tế nhưng người này thua một giáo sư có vốn về văn hóa.

Khái niệm “habitus” (tiếng Anh: “habit”) là dấu ấn được khắc vào tâm trí một người thông qua những mối quan hệ mà người đó có trong suốt đời mình, dấu ấn đó biến thành tâm thế của con người trong hành động và suy nghĩ. Những xu hướng mà con người tiếp thu được trong quá trình xã hội hóa của mình giúp con người có thể suy nghĩ và hành động tư duy. Tập tính này có thể áp dụng với nhiều cấp độ khác nhau trong đời sống thường ngày. Ví dụ: Khi nói tôi thích tác phẩm hội họa này, tôi thích tranh của Pablo Picasso, hoặc tranh của Levitan. Điều gì khiến tôi thích bức tranh đó chính là tập tính. Một tập tính là khi ta đã quen với một loại sản phẩm nào đó, nó khiến ta thưởng thức và yêu thích, đó là một mức độ của đời sống thường ngày. Hoặc ví dụ: Một người được một bác nông dân mời dùng cơm và sau đó được một người thuộc giai cấp thượng lưu cũng mời dùng cơm. Trong gia đình nông dân, họ sẽ xới cơm một bát đầy và ở trên lại có các món ăn. Còn tại một nhà thượng lưu ở Huế, người ta chỉ xới lưng bát cơm. Điều này thể hiện quan điểm của gia đình đó về vấn đề ăn uống. Do điều kiện sinh sống khó khăn của người nông dân khiến cho họ lúc nào cũng muốn ăn đầy bụng, chắc bụng. Còn gia đình thượng lưu thích chất lượng hơn là số lượng, họ chọn những món ngon và thanh nhã. Đó là một tập tính trong một hoạt động đơn giản. Những tập tính thường biểu hiện những điều kiện sinh sống của con người trong không gian xã hội.

Ta tìm hiểu thêm một khái niệm nữa, đó là tập tính về hàn lâm. Ví dụ: Khi một đứa bé vào một trường để học. Điều gì có khả năng chuẩn bị cho em sau này sẽ thi tuyển vào đại học? Đó là sự quan tâm của cha mẹ về vấn đề học hành của con, sự quan tâm này được đứa bé ghi nhận vào đầu óc. Môi trường xã hội hóa của gia đình sẽ tạo ra một tập tính về hàn lâm khiến cho em thiết lập một loại quan hệ đối với học vấn và đặc biệt là việc thi tuyển vào đại học. Như vậy việc huy động vốn dựa trên cơ sở những tập tính mà chúng ta có.

Một trường đại học được định nghĩa bởi tất cả thành viên mạng lưới của nhiều trường đại học khác nhau trong tư thế cạnh tranh để đạt được mục tiêu thu hút thí sinh. Mỗi trường sẽ có thứ bậc khác nhau. Thí sinh lựa chọn dựa trên các loại vốn và tập tính của mình để thi vào một trường đại học nhất định nào đó. Theo các công trình nghiên cứu thực nghiệm của nước ngoài, cuộc thi tuyển vào đại học rất có ý nghĩa đối với thành phần trung lưu. Vậy tại sao việc thi đại học lại kém ý nghĩa đối với thành phần xã hội nghèo hơn hoặc thượng lưu?

Thí sinh thi vào đại học phải tương xứng với địa vị xã hội của gia đình thí sinh đó. Thi vào đại học với thành phần trung lưu đó là sự lựa chọn mang tính xã hội và văn hóa và về lối sống chứ không chỉ là lựa chọn một ngành, một nghề nào đó. Quyết định lựa chọn thi vào đại học tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Mỗi yếu tố có một đặc thù tùy theo vị trí xã hội của gia đình đó. Nếu là con của một gia đình giàu có thì vấn đề kinh tế không phải là rào cản với họ và ngược lại nếu đó là con của một gia đình nông dân nghèo khó vùng sâu vùng xa thì vấn đề kinh tế chi phối rất lớn đến quyết định của họ. Trong lập luận của Bourdieu, những yếu tố mang tính kinh tế-xã hội ảnh hưởng mạnh đến những quyết định, và có tác động khác nhau tùy thuộc vị trí, sự định vị của cá nhân trong không gian xã hội. Do đó, vào đại học và học trường đại học là một cơ chế củng cố sự bất bình đẳng xã hội và nó che giấu sự bất bình đẳng với những cơ chế. Giáo dục đại học có thể là một hình thức che giấu, củng cố, và tái sản xuất sự bất bình đẳng.

Qua buổi trao đổi học thuật trên, ông Hồ đã khái quát hóa hiện tượng thi tuyển vào đại học trong cơ chế chi phối bởi các loại vốn mà chủ thể có được, ông Hồ cũng đã giải thích những mối liên hệ này trong sự bất bình đẳng xã hội trong bối cảnh kỳ thi tuyển sinh vào đại học đang đến gần. Ngoài ra buổi trao đổi còn gợi mở ra những hướng nghiên cứu mới đang còn thiếu ở Việt Nam về hiện tượng thi tuyển vào đại học.

Nguyễn Thành Phúc tường thuật